- Tranh chấp gì? án hình sự — "T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/HS-ST Ngày: 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ký.
2. Ông Tống Văn Tuyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thêm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2018/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1971; Tại: HT, HT, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn NT, xã HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Ch(Đã chết); con bà Lê Thị T; Vợ: Trần Thị N; Con: 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: không; Tạm giữ từ ngày 26/12/2017 đến ngày 29/12/2017 chuyển tạm giam cho đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1958.
Trú tại: Thôn NT, xã HT, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa;
Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Trịnh Xuân H, sinh năm 1961.
Trú tại: Tiểu khu A, thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/12/2017, Phạm Văn T đi xe máy biển kiểm soát 36P6-0398 từ nhà ở thôn NT, xã HT đến thị trấn Hà Trung tìm mua ma túy để sử dụng. T đi đến đoạn cổng nhà máy thuốc lá Thanh Hóa thuộc tiểu khu 3, thị trấn Hà Trung thì rẽ vào ngã ba thôn Thượng Quý xã Hà Phong. T gặp một người đàn ông khoảng 25 tuổi không quen biết, T hỏi mua ma túy của người đàn ông với giá 400.000đ(Bốn trăm nghìn đồng), người đàn ông cầm tiền đi một lúc rồi quay lại đưa cho T một gói ma túy. T cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái đi xe máy về nhà, khi đi đến Cổng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh huyện Hà Trung thuộc địa phận Tiểu khu 6, thị trấn Hà Trung huyện Hà Trung thì bị tổ công tác Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an thị trấn Hà Trung thấy có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra; Công an kiểm tra phát hiện thu giữ 01 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn T cầm ở tay trái, ngay tại chỗ T khai là hêrôin vừa mua với giá 400.000đ(Bốn trăm nghìn đồng) kiểm tra trên người và xe mô tô không phát hiện và thu giữ gì thêm, Tổ công tác đưa T về Công an huyện Hà Trung lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói nghi là ma túy đã thu giữ, thu giữ 01 xe máy của T.
Tại bản kết luận giám định số 155/MT-PC54 ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong mặt trước ghi “A vụ Phạm Văn T” gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 1,816 (Một phẩy tám mười sáu gam) loại: Heroine.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-HT ngày 04/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 BLHS năm 1999. Xử phạt Phạm Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Đề nghị áp dụng điều 41 BLHS năm 1999, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Hêrôin là mẫu vật còn lại sau giám định.
Về chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36P6 -0398 T dùng đi mua ma túy là xe mang đăng ký của T, nhưng trước đó T đã bán lại cho ông Phạm Văn T1, khi T mượn xe đi mua ma túy ông T1 không biết T mượn xe đi mua ma túy để sử dụng, nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho ông T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26/12/2017, tại Tiểu khu 6, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,816 (Một phẩy tám mười sáu gam) loại: Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định “Người nào tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” nhưng tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a..., b...,c Heroine, coocain,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do đó khi quyết định hình phạt nên căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và quy định tại khoản 3 Điều 7 và điều khoản có lợi của BLHS năm 2015 đối với bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng, điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để quyết định hình phạt cho bị cáo là đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tội mà toàn xã hội lên án mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi bởi tác hại của nó đối với giống nòi, đối với trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng lớn đến các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, việc đấu tranh với tội phạm ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước đang có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận bản thân bị cáo không nghiện ma túy, nhưng do ốm đau lâu ngày chưa khỏi, nên mua ma túy về sử dụng nhằm mục đích nhanh chóng khỏi bệnh, đây là sự thiếu hiểu biết của bị cáo về tính năng tác dụng của ma túy, dẫn đến sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng của bị cáo; Cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cần xem xét một mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Ông bà nội bị cáo là người có công với cách mạng, được chính phủ tặng bằng khen, bảng vàng danh dự; bị cáo là người trực tiếp thờ cúng liệt sỹ, bị cáo lâu nay phải chăm sóc anh trai bị bệnh câm điếc và thần kinh bẩm sinh không kiểm soát và làm chủ hành vi, được Hội đồng xét xử coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, nên xem xét một mức án phù hợp, tương xứng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 cùng quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo làm ruộng thu nhập thấp, hành vi phạm tội không nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
. Về chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36P6 -0398 T dùng đi mua ma túy là xe mang tên, đăng ký của T, nhưng trước đó T đã bán lại cho ông Phạm Văn T1, khi mua bán có giấy tờ mua bán, được chính quyền địa phương xác nhận, khi T mượn xe đi mua ma túy ông T1 không biết T mượn xe đi mua ma túy để sử dụng, nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho ông T1 là phù hợp.
. Về nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của người đàn ông khoảng 25 tuổi không quen biết ở ngã ba thôn Thượng Quý, xã Hà Phong, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.
. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Phạm Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 26/12/2017).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận mẫu vật sau giám định giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung ngày 18/4/2018) .
3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T1 có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hà Trung; - Công an huyện Hà Trung; - Bị cáo; - Ông T1; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Đạt |