- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14 /2018/HS-PT Ngày: 16-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.
Các Thẩm phán: Ông Thái Quang Hải.
Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Uyên Vũ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16-3-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 16/2018/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2018, đối với bị cáo Huỳnh Tấn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận M.
- Bị cáo có kháng cáo :
Huỳnh Tấn T sinh năm 1988, tại phường Long H, quận M, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: phường Long H, quận M, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê, thợ hồ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Tấn K (chết) và bà: Nguyễn Thị J; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam: 23-5-2017; trả tự do: 23-6-2017. Có mặt.
Những người bị hại và có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 26-01-2017, Huỳnh Tấn T tổ chức uống bia tại nhà, thuộc khu vực Long Đ, p. Long H, q. M, tp. Cần Thơ. Có Lê Hoài D và F cùng tham gia. F đốt pháo, rồi ném ra sân. Huỳnh Tấn B và Huỳnh Tấn P (là những người hàng xóm) đi qua, hỏi sự việc. T nói - không có gì. B và P ra về. F tiếp tục đốt pháo. B và P quay lại, hỏi sự việc. D tiếp tục lấy pháo ra, đốt. Giữa B và P với T đã phát sinh cự cãi. B và P đánh T. D vào can thiệp. P quay sang đánh D. T chạy vào nhà, lấy 01 ống sắt, đánh B và P. Sau đó đã được can ngăn.
Theo kết quả giám định pháp y, B bị thương tích ở trán và mắt trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%. P bị thương tích gây chấn thương hàm phải, gãy nứt mặt trước xoang hàm phải, gãy xương chính mũi. Phải phẫu thuật để nâng xương chính mũi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.
T đã bồi thường cho P 18.000.000đ và B 7.000.000đ. B và P đã xin miễn trách nhiệm hình sự cho T.
Tại bản án số 73/2017/HSST ngày 8-12-2017 Tòa án nhân dân quận M đã áp dụng: khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt Huỳnh Tấn T 01 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, còn có các quyết định: về xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 20-12-2017 bị cáo kháng cáo, xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Kiểm sát viên nhận định bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Mức hình phạt đã tuyên là tương xứng, đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo nên đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Bị cáo đã sử dụng ống sắt, đánh bị hại, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Mặc dù phía bị hại có một phần lỗi, khi cùng với B đánh bị cáo. Tuy nhiên, các bị hại chỉ sử dụng tay. Hơn nữa là bị cáo đã có hành vi trái pháp luật, khi để cho F và D 3 lần đốt pháo nổ tại nhà, gây bức xúc cho những người hàng xóm. Khi B và P phản ứng thì bị cáo có lời lẽ thách thức, dẫn đến xung đột. Do thương tích của B có tỷ lệ tổn thương là 2% và B đã yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên chỉ quy kết bị cáo gây thương tích cho P mà thôi. Xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.
Hiện nay tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của ngưới khác có xu hướng tăng, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội nghiêm trọng. Nên cần xử phạt cho nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Hình phạt đã tuyên đối với bị cáo không nặng, là cần thiết để phòng chống tội phạm này. Nên giữ nguyên như kết luận của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt Huỳnh Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ 23-5-2017 đến 23-6-2017.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
| Nơi nhận: - VKSND TPCT; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng q.Thốt Nốt; - Bị cáo; - Lưu. | Nguyễn Văn Trinh |