- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Anh Lê Ngọc Kh được ly hôn chị Lưu Thị Thu .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST Ngày 18-5-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, TP.HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Đặng Trình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Biên
Ông Vũ Văn Lẫy
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Tâm, Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài, Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 293/2017/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/3/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 264/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11/5/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc K,
- Bị đơn: Chị Lưu Thị Thu D,
Cùng địa chỉ: Số 45 H, tổ 6, phường B, quận A, thành phố H.
Anh Lê Ngọc Kh có đơn xin vắng mặt, chị Lưu Thị Thu D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ ba không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/9/2017 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn trình bày: Anh và chị Lưu Thị Thu D kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường Bắc Sơn, quận Kiến An, TP.Hải Phòng ngày 28/9/1994. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống với nhau tại nhà của bố, mẹ anh. Quá trình chung sống vợ, chồng hòa thuận đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm. Vợ, chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả và mâu thuẫn vẫn xảy ra. Do mâu thuẫn căng thẳng, tuy sống trong một nhà nhưng vợ, chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Đến nay, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, anh Lê Ngọc Kh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lưu Thị Thu D.
Về con chung: Anh và chị Lưu Thị Thu D có 02 con chung là Lê Ngọc Q, sinh ngày 21/11/1994 và Lê Ngọc Q, sinh ngày 27/11/2003. Hiện nay, con Lê Ngọc Q đã trưởng thành, khi ly hôn anh nhận nuôi con Lê Ngọc Q và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh.
Về tài sản chung: Anh và chị Lưu Thị Thu D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản khai ngày 15/01/2018 và ngày 08/5/2018 chị Lưu Thị Thu D trình bày thống nhất với anh Lê Ngọc Khvề điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn phát sinh và con chung. Nhưng chị đồng ý ly hôn khi anh Kh để cho chị được nuôi con chung là Lê Ngọc Q.
Về tài sản chung: Chị Lưu Thị Thu D và anh Lê Ngọc Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản khai ngày 20/3/2018 ông Lê Ngọc O (là bố đẻ anh Kh) trình bày thống nhất với anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn phát sinh và con chung. Nay anh Lê Ngọc Kh có đơn xin ly, đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ, nếu anh Kh và chị D không đoàn tụ được thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của cháu Lê Ngọc Q ngày 15/01/2018 đề nghị được ở với cả bố và mẹ cháu hoặc với ông bà nội. Vì hiện tại cháu đang ở chung với ông bà nội và bố mẹ.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giải quyết cho anh Lê Ngọc Kh được ly hôn chị Lưu Thị thu D. Về con chung: Giao con Lê Ngọc Q cho anh Lê Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Lưu Thị Thu D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D cùng có địa chỉ cư trú tại nhà số 45 H, tổ 6 phường B, quận A, thành phố H. Do đó, vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai mà chị Lưu Thị Thu D vẫn vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 207 và Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Lê Ngọc KH có đơn xin vắng mặt, chị Lưu Thị Thu D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh Kh và chị D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Bắc Sơn, quận Kiến An, TP.Hải Phòng ngày 28/9/1994, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Anh Kh và chị D đều thừa nhận mâu thuẫn vợ, chồng đã phát sinh do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm. Do mâu thuẫn căng thẳng, tuy sống trong một nhà nhưng vợ, chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D đã trầm trọng kéo dài, đời sống chung thực tế đã không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Ngọc Kh là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D có 02 con chung là Lê Ngọc Q, sinh ngày 21/11/1994 và Lê Ngọc Q, sinh ngày 27/11/2003. Hiện nay, con Lê Ngọc Q đã trưởng thành, khi ly hôn anh, chị đều nhận nuôi con Lê Ngọc Q và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D đều có việc làm và thu nhập ổn định, có điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con ngang nhau, hiện tại anh chị và con cùng ở chung với bố mẹ anh Kh. Mặt khác, nguyện vọng của con Lê Ngọc Q được ở với cả bố và mẹ hoặc với ông bà nội. Để đảm bảo cuộc sống của con không bị xáo trộn, ổn định việc ăn ở, học tập. Do đó, cần giao con Lê Ngọc Q cho anh Lê Ngọc Kh nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Lưu Thị Thu D là phù hợp với quy định tại các điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Lê Ngọc Kh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 203, 266, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Anh Lê Ngọc Kh được ly hôn chị Lưu Thị Thu .
2. Về con chung: Giao cho anh Lê Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Ngọc Q, sinh ngày 27/11/2003 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Lưu Thị Thu D hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Anh Lê Ngọc Kh và chị Lưu Thị Thu D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Anh Lê Ngọc Kh phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai ký hiệu AA/2014 số 0010099, ngày 25/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Lẫy
Nguyễn Công Biên
Cao Đặng Trình
| Nơi nhận: - Các Đương sự; - TAND tp Hải Phòng; - VKSND quận Kiến An; - Chi cục THA dân sự Kiến An; - UBND P.Bắc Sơn, Kiến An; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đặng Trình |