vanban.org

Bản án 14/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho anh Lăng Văn Cảnh được ly hôn chị Khổng Thị Tĩnh.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Anh Cảnh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lăng Thị Thu Phương, sinh ngày 07/01/2011 và cháu Lăng Thùy Linh, sinh ngày 26/10/2016. Chị Tĩnh đóng góp nuôi con chung cùng anh Cảnh 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 6/2018 cho đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lăng Văn C xin ly hôn Khổng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho anh Lăng Văn Cảnh được ly hôn chị Khổng Thị Tĩnh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 6 năm 2018
“V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Lực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Bà Trần Thị Lan Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Lăng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Thanh Tâm– Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2018/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân Gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lăng Văn Cảnh, sinh ngày 07/02/1990

Nơi cư trú: Thôn Đồng Quyền, xã Xuân Hòa, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, có mặt.

2. Bị đơn: Chị Khổng Thị Tĩnh, sinh ngày 21/3/1992 Nơi cư trú: Thôn Đồng Quyền, xã Xuân Hòa, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 10/4/2018 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Lăng Văn Cảnh trình bày:

Anh và chị Khổng Thị Tĩnh kết hôn vào ngày 02/4/2010, có tìm hiều, có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Hòa. Kết hôn xong chị Tĩnh về chung sống cùng gia đình anh được khoảng 2 tháng thì gia đình cho vợ chồng ra làm ăn riêng nhưng vẫn ở chung nhà cùng gia đình. Quá trình vợ chồng chung sống đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, chị Tĩnh không chịu khó làm ăn, anh có nói thì chị Tĩnh cãi lại, nên từ đó thường xuyên xảy ra xô xát, cãi, chửi nhau. Anh và chị Tĩnh sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, anh xin được ly hôn chị Tĩnh.

Trong bản tự khai ngày 10/5/2018 và biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là chị Khổng Thị Tĩnh trình bày:

Chị xác định về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống như anh Cảnh trình bày là đúng. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh Cảnh không tin tưởng chị, nghi ngờ chị có quan hệ bất chính nên anh Cảnh đánh, chửi chị, chị và anh Cảnh chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng 3/2018 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không, nhưng vì con nên chị xin đoàn tụ.

Con chung: Anh Cảnh và chị Tĩnh cùng xác định vợ chồng có 02 con chung là Lăng Thị Thu Phương, sinh ngày 07/01/2011 và Lăng Thùy Linh, sinh ngày 26/10/2016. Nếu ly hôn, anh Cảnh và chị Tĩnh thỏa thuận để anh Cảnh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung, chị Tĩnh đóng góp nuôi con chung cùng anh Tĩnh 1.000.000đ/tháng cho đến khi con thành niên.

Tài sản chung: Anh Cảnh và chị Tĩnh xác nhận vợ chồng anh có 01 cặp bò mẹ con; anh Cảnh đã bán con bò con được 4.900.000đ; còn con bò mẹ trị giá 5.100.000đ. Nếu ly hôn, anh Cảnh và chị Tĩnh tự thỏa thuận phân chia và không đề nghị tòa án giải quyết.

Tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh Cảnh và chị Tĩnh xác định không có và không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến giai đoạn Hội đồng xét xử, nghị án đã thực hiện đầy đủ, trình tự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh Cảnh và chị Tĩnh được ly hôn; công nhận sự thỏa thuận của anh Cảnh chị Tĩnh về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức anh Cảnh và chị Tĩnh không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của anh Lăng Văn Cảnh và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, nuôi con chung …”. Bị đơn là chị Khổng Thị Tĩnh có địa chỉ tại thôn Đồng Quyền, xã Xuân Hòa, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Cuộc hôn nhân giữa anh Lăng Văn Cảnh và chị Khổng Thị Tĩnh là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau, nên từ đó thường xảy ra mâu thuẫn. Nay anh Cảnh xin ly hôn còn chị Tĩnh xin đoàn tụ.

Xét đề nghị của anh Cảnh và chị Tĩnh thấy rằng: Tình cảm vợ chồng giữa anh Cảnh và chị Tĩnh không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích xin đoàn tụ của chị Tĩnh là không thực tâm mà chỉ nhằm mục đích kéo dài cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Tĩnh đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con nên xin đoàn tụ, nên đề nghị của chị Tĩnh là không có căn cứ chấp nhận. Do vậy, đề nghị của anh Cảnh xin ly hôn chị Tĩnh là có căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được xem xét chấp nhận.

Xét thỏa thuận của anh Cảnh và chị Tĩnh về việc nuôi con chung, việc đóng góp nuôi con chung của chị Tĩnh là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Anh Cảnh và chị Tĩnh cùng thỏa thuận không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Lăng Văn Cảnh phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Tĩnh phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử cho anh Lăng Văn Cảnh được ly hôn chị Khổng Thị Tĩnh.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Anh Cảnh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lăng Thị Thu Phương, sinh ngày 07/01/2011 và cháu Lăng Thùy Linh, sinh ngày 26/10/2016. Chị Tĩnh đóng góp nuôi con chung cùng anh Cảnh 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 6/2018 cho đến khi con thành niên và có thể lao động tự túc được. Sau khi ly hôn, chị Tĩnh có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Anh Cảnh và chị Tĩnh cùng thỏa thuận không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, anh Cảnh có đơn đề nghị thi hành án, nếu chị Tĩnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì còn phải chịu một khoản tiền lãi do chậm trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án phí: Anh Lăng Văn Cảnh phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0001525 ngày 11/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.

Chị Khổng Thị Tĩnh phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ