- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? u n ố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần NTVN và xử:
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
C G
C Ủ G
Ệ
UYỆ C S
Độc lập – ự do – ạnh phúc
Ỉ G L
Bản án số: 14/2018/DSST
Ngày: 24/9/2018 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
ƢỚC C G OÀ
C Ủ G
Ệ
OÀ
UYỆ C S, Ỉ G L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình H.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị H.
2. Ông Siu Tơ L.
- Thư ký phiên tòa:Bà Đinh Thị Y, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến M, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2018 và Quyết định ho n phiên tòa số: 14/2018/QĐST ngày 04 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần NTVN.
Địa chỉ: Số 198 Trần Quang Kh, quận Hoàn K, thành phố H N.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân Th, chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Tuấn A, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TMCP NT G L. (Theo giấy ủy quyền số 213/UQ-VCB-PC ngày 12/4/2016) của Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Tấn Đ, Trưởng phòng giao dịch Ch S Ngân hàng TMCP NTVN - Chi nhánh G L (Theo giấy ủy quyền số 246/UQNHNTGL ngày 24/4/2018).
Địa chỉ: 804 H V, thị trấn Ch S, huyện Ch S, tỉnh G L.
Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Hồ Xuân T, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992.
- 1 -
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 13, thị trấn Ch S, huyện Ch S, tỉnh G L.
(Anh T và chị H đều vắng mặt).
U G Ụ :
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN ông Nguyễn Tấn Đ trình bày:
Theo hợp đồng cho vay bán lẻ số 355/17/NHNT.CS ngày 22/3/2017 đ ký kết, anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), thời hạn vay 11 tháng kể từ ngày rút vốn (23/3/2017), l i trong hạn: 9.3%/năm, l i quá hạn: 12,09%/năm; mục đích vay: làm kinh tế gia đình, mua bán hàng nông sản. Nhưng anh T và chị H không có giấy phép đăng ký kinh doanh.
Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 19/04A/NHNT ngày 19/4/2016, anh T và chị H đ thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay trên gồm: Hai (02) lô đất và toàn bộ tài sản trên đất tại tờ bản đồ số 27, thửa số 139, 140 tại làng T, xã K HT, huyện Ch S, tỉnh G L; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 418105 và BX418106 do Ủy ban nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L cấp ngày 13/4/2015.
Trong quá trình quan hệ tín dụng, anh chị đ vi phạm thời hạn thanh toán nợ gốc và nợ l i, Ngân hàng đ nhiều lần gửi thông báo nợ quá hạn và mời anh, chị đến Ngân hàng làm việc nhưng anh, chị không phối hợp với Ngân hàng để thanh toán nợ. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T và chị H phải thanh toán số nợ gốc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và số tiền lãi còn nợ là 13.978.027đồng (Lãi tính từ ngày 26/02/2018 đến ngày 24/9/2018), sau khi đ trừ đi số tiền l i anh Tm và chị H đ trả cho Ngân hàng trước đây là 17.326.027đ (L i tính từ ngày 23/12/2017 đến ngày 25/02/2018). Trường hợp anh T và chị H không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng đề nghị phát m i toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
Đối với bị đơn anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh chị đều vắng mặt, không có lời khai, không tham gia hòa giải mà không có lý do. Anh T và chị H không có yêu cầu phản tố.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát huyện Ch S: Về việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật; Đối với bị đơn anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H không thực hiện đúng theo Giấy triệu tập của Tòa án là không tuân thủ quy định của pháp luật, gây khó khăn cho
- 2 -
công tác giải quyết án của Tòa án và cũng không cung cấp chứng cứ gì cho Tòa án. Về phần nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H phải có ngh a vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN thông qua phòng giao dịch Ch S Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN - Chi nhánh G L số tiền nợ gốc và nợ l i tạm tính đến ngày 24/9/2018 là 213.978.027đ (trong đó nợ gốc 200.000.000đ, nợ l i 13.978.027đ).
Ngân hàng có ngh a vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 418105 và số BX418106 do Ủy ban nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L cấp ngày 13/4/2015 cho anh T và chị H khi anh chị thanh toán xong các khoản nợ cho ngân hàng. Trường hợp anh T và chị H không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát m i tài sản đ thế chấp để thu hồi nợ. Buộc anh T và chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN.
Ậ ĐỊ CỦ
:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
ề tố tụng:
[1]Ngày 04/5/2018, nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN có đơn khởi kiện yêu cầu anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H thanh toán số tiền gốc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và số tiền lãi còn nợ là 13.978.027đồng (Lãi này tính từ ngày 26/02/2018 đến ngày 24/9/2018), sau khi đ trừ đi số tiền l i anh T và chị H đ trả cho Ngân hàng trước đây là 17.326.027đ (L i này tính từ ngày 23/12/2017 đến ngày 25/02/2018). Anh T và chị H có địa chỉ tại Tổ dân phố 13, thị trấn Ch S, huyện Ch S, tỉnh G L. Phía nguyên đơn và phía bị đơn đều không cung cấp được giấy phép đăng ký kinh doanh của phía bị đơn. Đồng thời, tại công văn số 139/CV-TCKH ngày 21/9/2018, Phòng tài chính- Kế hoạch huyện Ch S cung cấp: Qua rà soát thông tin trong danh sách theo dõi các hộ kinh doanh tại Phòng tài chính-Kế hoạch, không có thông tin về hộ kinh doanh Hồ Xuân T và Nguyễn Thị H. Xét thấy hình thức, nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L.
[2]Mặt khác, Hợp đồng cho vay bán lẻ số 355/17/NHNT.CS ngày 22/3/2017 là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và có l i. Đến hạn trả nợ Ngân hàng đ thông báo nhiều lần, nhưng anh T và chị H vẫn không trả nợ gốc và l i. Sau thời hạn cam kết trả nợ, Ngân hàng mới khởi kiện đòi lại số tiền cho vay và tiền l i là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 465 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3]Quá trình chuẩn bị xét xử ,Toà án đ thực hiện nhiều lần triệu tập hợp lệ, nhưng phía bị đơn là anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H vẫn cố tình không đến Toà án để giải quyết vụ án. Xét thấy việc chấp hành pháp luật của anh T và chị H như vậy là không nghiêm túc thể hiện thái độ coi thường pháp luật, ý thức không tôn trọng pháp luật của một công dân trong x hội. Do anh T và chị H không đến Toà án nên không lấy
- 3 -
lời khai, không tiến hành hoà giải được và Toà án đưa vụ án ra xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời phía bị đơn đ từ bỏ quyền và ngh a vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án sẽ căn cứ vào chứng cứ thu thập được giải quyết theo luật định.
ề nội dung: Xét yêu cầu đòi 200.000.000 đồng và nợ l i 13.978.027 đồng (tạm tính đến ngày 24/9/2018) và trường hợp anh T và chị H không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát m i tài sản đ thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn thấy:
[4]Trước hết, xét về hiệu lực của hợp đồng và số tiền phải trả: Đây là loại hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19/04A/NHNT ngày 19/4/2016 đ được công chứng tại Văn phòng công chứng Ch S và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G L – Chi nhánh huyện Ch S vào ngày 20/4/2016. Khi tham gia giao kết hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức x hội; các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, do đó, hợp đồng có hiệu lực, các bên có ngh a vụ thực hiện đúng các điều khoản đ cam kết.
Theo Hợp đồng cho vay bán lẻ số 355/17/NHNT.CS ngày 22/3/2017, anh T và chị H vay của Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 11 tháng kể từ ngày rút vốn (23/3/2017), ngày đến hạn 24/02/2018, l i trong hạn: 9,3%/năm, l i quá hạn: 12,09%/năm. Trong quá trình thực hiện quan hệ tín dụng, thời gian từ ngày 23/12/2017 đến ngày 25/02/2018, anh chị thực hiện đầy đủ ngh a vụ thanh toán l i theo thỏa thuận đ cam kết; Tuy nhiên, từ ngày 26/02/2018 cho đến nay, anh chị không thực hiện ngh a vụ thanh toán nợ l i, Ngân hàng đ nhiều lần liên hệ, thông báo yêu cầu trả l i nhưng anh chị vẫn không thực hiện ngh a vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận. Cụ thể:
Đối với khoản nợ gốc: Theo Hợp đồng trên và giấy nhận nợ kèm theo, anh T và chị H vay của Ngân hàng 200.000.000 đồng vào ngày 23/3/2017. Từ đó đến nay, anh chị chưa thanh toán khoản nợ gốc nào cho Ngân hàng;
Đối với số nợ l i: Theo thỏa thuận giữa các bên, anh T và chị H phải thanh toán tiền l i cho Ngân hàng vào ngày 26 hàng quý và thời hạn trả l i tối đa là 07 ngày kể từ ngày tính l i, nhưng bị đơn không thực hiện ngh a vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ gốc sang nợ quá hạn kể từ ngày 26/02/2018.
Theo thỏa thuận,l i trong hạn: 9,3%/năm, l i quá hạn: 12,09%/năm, l i suất cho vay không thay đổi trong suốt thời hạn cho vay, thời hạn vay 11 tháng kể từ ngày rút vốn (23/3/2017), ngày đến hạn 24/02/2018. Do đó, từ ngày 23/3/2017 đến ngày 25/02/2018 tính l i trong hạn, từ ngày 26/02/2018 cho đến ngày 24/9/2018 tính lãi quá hạn. Trên cơ sở lời khai, bản kê tính l i và sao kê tài khoản do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp thì l i trong hạn là 17.326.027đ, l i quá hạn là 13.978.027đ, tổng cộng l i tạm tính đến ngày 24/9/2018 là 31.304.054đ, nhưng anh Tvà chị H đ trả cho Ngân hàng được 17.326.027đ tiền l i. Như vậy, anh T và chị H còn nợ ngân hàng tiền l i là: 13.978.027 đồng.
- 4 -
Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn không phản đối các yêu cầu này của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa khẳng định phía bị đơn có nợ nguyên đơn 200.000.000 đồng và nợ l i 13.978.027đđồng (tạm tính đến ngày 24/9/2018).
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh T và chị H phải trả cho ngân hàng số nợ gốc: 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) và nợ l i còn lại là 13.978.027 đồng (Lãi tạm tính đến ngày 24/9/2018).
Trường hợp anh T và chị H không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát m i tài sản đ thế chấp để thu hồi nợ.
[5]Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn anh T và chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN thông qua phòng giao dịch Ch S Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN – Chi nhánh G L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊ :
- Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 70; 91; 92; 144; 147; 207; 208; 227; 228; 235; 264; 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 116; 117; 274; 275; 280; 357; 401; 466; 468; 470 của Bộ luật dân sự và các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng.
-Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
u n ố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần NTVN và xử:
1. Buộc anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H có ngh a vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN thông qua Phòng giao dịch Ch S Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN - Chi nhánh G L tổng số nợ là: 213.978.027đồng (B ng chữ: Hai trăm mười ba triệu chín tăm bảy mươi tám nghìn không trăm hai mươi bảy đồng), (trong đó nợ gốc: 200.000.000 đồng, l i trong hạn 0 đồng, l i quá hạn 13.978.027 đồng, tạm tính đến ngày 24/9/2018).
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền l i quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức l i suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3.Ngân hàng Thương mại Cổ phần NTVN thông qua phòng giao dịch Ch S Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN - Chi nhánh G L có ngh a vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 418105 và BX418106 do Ủy ban nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L cấp ngày 13/4/2015 cho anh
- 5 -
Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H khi anh chị thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
4.Trường hợp anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H không thực hiện ngh a vụ trả số nợ trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản mà anh T và chị H đ thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19/04A/NHNT ngày 19/4/2016 gồm: Hai (02) lô đất và toàn bộ tài sản trên đất tại tờ bản đồ số 27, thửa số 139 và thửa số 140 tại làng T, xã K HT, huyện Ch S, tỉnh G L; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 418105 và số BX418106 do Ủy ban nhân dân huyện Ch S, tỉnh G L cấp ngày 13/4/2015 để thu hồi nợ.
5. Về án phí: Buộc anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là: .10.698.901 đồng = (213.978.027đồng x 5%) để sung công quỹ Nhà nước.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN thông qua phòng giao dịch Ch S Ngân hàng Thương mại cổ phần NTVN - Chi nhánh G L số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 5.026.498 (Năm triệu không trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền số 0007461 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch S, tỉnh G L.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2018); Bị đơn anh Hồ Xuân T và chị Nguyễn Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G L xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
7.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. ơi nhận:
.
ĐỒ G É Ử SƠ Ẩ
- Các đương sự;
Ẩ P
–C Ủ Ọ P Ê -VKSND (02 bản);
- Chi cục THADS (01 bản);
- PGĐKT Toà án tỉnh (01 bản);
- Lưu hồ sơ vụ án (01 bản);
- Lưu cơ quan (01 bản).
gu ễn Đình
- 6 -