vanban.org

Bản án 14/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Nguyễn C, bà Phan Thị L phải trả cho Ngân hàng N (trả tại chi nhánh H, Đắk Lắk) số tiền nợ gốc 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày 07/11/2018 là 116.750.000đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/DS-ST
Ngày 07 - 11 - 2018
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Chiến;

2. Bà Bùi Thị Thiềm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hồng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2018/TLST- DS ngày 21 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: xx, đường T, phường M quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc H – Giám đốc ngân hàng N chi nhánh H, Đắk Lắk.

Địa chỉ:…, đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn C và bà Phan Thị L

Địa chỉ: Số nhà .., đường T, tổ dân phố x, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989.

Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991.

Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1994.

Cùng địa chỉ: Số nhà x, đường T, tổ dân phố C, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H trình bày: Vào ngày 04/4/2013 Ngân hàng N chi nhánh H Đắk Lắk (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số 5218LVA-201300439/HĐTD với ông Nguyễn C, bà Phan Thị L, cho ông C, bà L vay số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất vay là 12% năm, thời hạn vay 12 tháng, thời hạn trả nợ vào ngày 04/4/2014, được ngân hàng cho gia hạn trả nợ đến 04/4/2017. Quá hạn trả nợ từ ngày 04/4/2017 đến nay. Ngân hàng đã áp dụng mọi biện pháp để thu hồi nợ, nhưng ông C, bà L vẫn chưa trả nợ. Tính đến ngày 07/11/2018 ông C, bà L còn nợ của Ngân hàng số tiền nợ gốc 150.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 07/11/2018 gồm lãi trong hạn 102.200.000đ và lãi quá hạn 14.550.000đ.

Để đảm bảo cho hợp đồng vay trên ông C, bà L đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số 70 ngày 26/3/2012, phụ lục hợp đồng thế chấp ngày 03/4/2013 tài sản gồm có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số XXX do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L. Tài sản trên đất 01 nhà xây cấp 4, diện tích 80m2. Địa chỉ thửa đất: đường T, tổ dân phố X, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông C, bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 150.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 07 tháng 11 năm 2018 là 102.200.000đ, lãi quá hạn 14.550.000đ, và lãi phát sinh từ ngày 08/11/2018 cho đến ngày trả xong nợ gốc.

Trường hợp ông C, bà L không trả được nợ, đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/8/2018, 19/10/2018 bị đơn bà Phan Thị L trình bày:

Vào ngày 04/04/2013 bà L và ông C ký hợp đồng tín dụng số 5218LAV201300439/HĐTD với Ngân hàng để vay số tiền 150.000.000đ. Lãi suất 12%/năm, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ là ngày 04/04/2014. Đến hạn trả nợ ông, bà không trả được nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng gia hạn trả nợ đến ngày 04/4/2017. Từ khi vay đến nay bà và ông C chưa trả cho Ngân hàng khoản tiền gốc và tiền lãi nào, bà L xác định hiện nay bà và ông C còn nợ Ngân hàng 150.000.000đ và tiền lãi từ khi vay đến nay.

Bà và ông C đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 cho hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà và ông C phải trả Ngân hàng 150.000.000đ tiền gốc và 102.925.000đ tiền lãi tính đến ngày 07/5/2018.

Bà L đề nghị Ngân hàng cho thời gian để bà và ông C vay tiền của bà con về trả cho Ngân hàng. Về tiền lãi bà đề nghị Ngân hàng xem xét, miễn toàn bộ tiền lãi cho ông bà, vì bà đau yếu, bệnh phải chữa nhiều năm nay, gia đình hiện nay kinh tế rất khó khăn, thuộc diện hộ nghèo tại địa phương.

Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L1 Khai:

Chị L1 là của ông Nguyễn C và bà Phan Thị L, ngày 04/04/2013 ông C, bà L ký hợp đồng với Ngân hàng để vay số tiền 150.000.000đ. Đến hạn trả nợ do ông C, bà L không trả được nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng gia hạn trả nợ đến ngày 04/4/2017. Ông C, bà L đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 cho hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C, bà L phải trả nợ. Trường hợp không trả được nợ, Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp, chị L1 không có ý kiến gì. Vì tài sản ông C, bà L thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền là của ông C, bà L mua từ khi chị L1 và các em còn nhỏ. Bản thân chị và các em của chị gồm Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị M, Nguyễn Trọng T không có công sức đóng góp vào tài sản ông C, bà L.

Tại phiên tòa: Đại diện VKSND huyện Krông Ana phát biểu ý kiến: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại huyện K nên Toà án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định, đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định đúng tư cách đương sự quy định tại Điều 68 BLTTDS. Về thu thập chứng cứ Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 97 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đương sự.

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 466 BLDS năm 2015 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L phải trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 08/5/2018 là 102.925.000đ tiếp tục tính tiền lãi sinh từ ngày 08/5/2018 đến ngày trả hết nợ vay. Trường hợp bị đơn không trả được nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L đã được thông báo và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị L1, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn thị M và anh Nguyễn Trọng T (là con của ông C, bà L) đã được thông báo, triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Nguyên đơn Ngân hàng cho bị đơn ông C, bà L vay 150.000.000đ. Nguyên đơn khởi kiện đòi nợ vay, HĐXX xác định quan hệ pháp tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cú trú tại đường T, tổ dân phố x, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông C, bà L phải trả số tiền gốc 150.000.000đ và tiền lãi chưa trả, ngân hàng đã giao nộp chứng cứ là bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản, phụ lục bổ sung hợp đồng thế chấp, đơn đăng ký giao dịch bảo đảm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn bà Phan Thị L thừa nhận vào ngày 04/04/2013 vợ chồng bà ký hợp đồng với Ngân hàng N vay số tiền 150.000.000đ. Từ khi vay đến nay bà và ông C chưa trả cho Ngân hàng khoản tiền gốc và tiền lãi nào.

Thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân cho bị đơn vay số tiền gốc là 150.000.000đ, lãi suất 12% năm, thời hạn vay là 12 tháng, được gia hạn đến ngày 04/4/2017, nay quá hạn trả nợ nhưng bị đơn vẫn không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay. Xét hợp đồng tín dụng đang được thực hiện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của BLDS năm 2015, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 để giải quyết. Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận, buộc bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 07/11/2018 là 116.750.000đ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 08/11/2018 cho đến ngày bị đơn trả hết nợ gốc.

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, HĐXX xét thấy khi vay vốn, bị đơn thế chấp tài sản cho nguyên đơn tại hợp đồng thế chấp tài sản số 70 ngày 26/3/2012, phụ lục hợp đồng thế chấp ngày 03/4/2013 tài sản gồm có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L. Tài sản trên đất 01 nhà xây cấp 4, diện tích 80m2. Địa chỉ thửa đất: đường T, tổ dân phố x, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã được đăng ký thế chấp ngày 26/3/2012. Về quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L. Bị đơn bà L xác định tài sản thế chấp là của bà và ông C do ông bà nhận chuyển nhượng của người khác. chị L1 con ông C, bà L cũng xác định tài sản này là của ông C, bà L, chị không có ý kiến gì. Còn chị Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Trọng T là các con của ông C, bà L đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không có ý kiến, yêu cầu gì.

Như vậy, Hợp đồng thế chấp đã được ký kết và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp ông C, bà L không trả được nợ, áp dụng Điều 299 BLDS năm 2015 xử lý tài sản thế chấp nói trên để thanh toán nợ cho ngân hàng theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Trường hợp ông C, bà L trả xong nợ, thì Ngân hàng phải trả lại cho ông C, bà L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L phải chịu án phí DSST. Tuy nhiên, ông Nguyễn C, bà Phan Thị L thuộc diện hộ nghèo tại địa phương, có đơn xin miễn giảm án phí. Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 và khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ án phí DSST cho ông Nguyễn C, bà Phan Thị L là phù hợp.

Nguyên đơn ngân hàng không phải chịu án phí, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Ngân hàng N chịu chi phí là 2.875.000đ. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thông báo đã nộp tại Tòa án là 2.875.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điều 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 466, Điều 299 của Bộ luật dân sự 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 và khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Nguyễn C, bà Phan Thị L phải trả cho Ngân hàng N (trả tại chi nhánh H, Đắk Lắk) số tiền nợ gốc 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày 07/11/2018 là 116.750.000đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2/ Trường hợp ông C, bà L trả xong nợ, thì ngân hàng phải trả cho ông C, bà L 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.

Trường hợp bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 70 ngày 26/3/2012 và phụ lục hợp đồng thế chấp ngày 03/4/2013. Tài sản gồm có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số xxx do UBND huyện K cấp ngày 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L. Tài sản trên đất 01 nhà xây cấp 4, diện tích 80m2. Địa chỉ thửa đất: đường T, tổ dân phố x, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3/ Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự cho bị đơn ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.

Hoàn trả cho Ngân hàng N – Chi nhánh H, Đắk Lắk số tiền tạm ứng án phí 6.323.000đ (Sáu triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, theo biên lai số: 5628 ngày 17 tháng 5 năm 2018.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ