vanban.org

Bản án 14/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ị c o: Chang A G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Xử phạt ị cáo Chang A G: 24 ( Hai mươi ốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giữ ngày 11 tháng 9 năm 2017. 2 .V xử l ậ ch ng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang A G - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? ị c o: Chang A G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2017/HSST
Ngày 28/ 11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Gi ng A B ch.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Xuân Phùng.

2. Ông Trần Ngọc Kiên.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Qu ng Văn Nam.

Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đình Hải: Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2017/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2017.

Đối với bị cáo Chang A G. (Tên gọi khác: Không). Sinh năm 1974.

Nơi sinh: Xã Nậm C, huyện Mù Cang Ch, tỉnh Yên Bái.

Nơi ĐKHKTT: Bản Huy P, xã Nậm C, huyện Mù Cang Ch - Yên Bái.

Chỗ ở hiện nay: Nhóm Tá Phì C, xã Chung C, huyện Mường N, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm nương. Trình độ văn hóa: Không.

Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Chang A P (đã chết) và con bà Giàng Thị S ( đã chết).

Có vợ Giàng Thị D và có 05 người con, lớn nhất 25 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi.

Gia đình ị cáo có 04 anh em ruột, ị cáo là th 01 trong gia đình.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 11 tháng 9 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.

*) Người phiên dịch: Ông Th o A Vừ.

Trú tại: Bản Nà Pán, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Chang A G bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.

Vào ngày 01 tháng 9 năm 2017, ị cáo Chang A G đi sang khu vực ản Nậm Là, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé để tìm việc làm thuê nhưng không có ai thuê; ị cáo Chang A G đã đi đến khu vực iên giới Việt Nam – Lào thì có một người đàn ông dân tộc Mông thuê ị cáo Chang A G làm những công việc phát nương và vác thóc. Đến ngày 10 tháng 9 năm 2017 xong việc và ị cáo Chang A G yêu cầu trả tiền công thì ông ta ảo không có tiền; nếu lấy thuốc phiện thì có; ị cáo Chang A G đã đồng ý lấy 01(một) gói thuốc phiện. Đến khoảng 04 giờ 05 phút ngày 11 tháng 9 năm 2017 ị cáo Chang A G đang trên đường về nhà thì ị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và ắt quả tang cùng toàn ộ vật ch ng.

Ngày 12 tháng 9 năm 2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé, đã lập iên ản mở niêm phong, xác định trọng lượng vật ch ng, thu được của ị cáo Chang A G là: 135,81gam đồng thời lấy đi 3,5 gam làm m u vật gửi giám định chất ma túy. Số còn lại là: 132,31 gam.

Bản kết luận giám định số: 767/GĐ – PC 54 ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: M u vật trích ra từ vật ch ng gửi đến giám định thu được của Chang A G là thuốc phiện. Số m u vật 3,5 gam gửi giám định không hoàn lại theo quy định của pháp luật. Tổng trọng lượng vật ch ng thu được là 135,81 gam là Thuốc phiện.

Bản cáo trạng số: 72/QĐ – VKS - HS ngày 08 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố ị cáo Chang A G về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt ị cáo Chang A G: 18 tháng đến 24 tháng tù.

Không áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo Chang A G.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu vật ch ng tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Bị cáo Chang A G không tranh luận gì, về nội dung ản luận tội, c ng như cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát.

Căn c vào các ch ng c tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Qua cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa và lời khai nhận của bị cáo Chang A G, tại cơ quan điều tra, hoàn toàn phù hợp với các ch ng c , đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vào hồi 04 giờ 05 phút ngày 11 tháng 9 năm 2017 ị cáo Chang A G đang cầm trên tay túi thuốc phiện thì ị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và ắt quả tang hành vi tàng trữ 135,81 gam với mục đích để sử dụng.

Bị cáo Chang A G có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, iết r Tàng trữ trái phép chất ma túy là trái quy định của pháp luật s ị trừng trị, nghiêm minh.

Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của ị cáo Chang A G bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của ị cáo Chang A G là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền, quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại vùng sâu, vùng xa biên giới. Bị cáo Chang A G l ra phải làm gương cho vợ, con, noi theo học tập nhưng ị cáo Chang A G đã không làm thế mà vi phạm chịu sự phán xét của pháp luật.

Xét về nhân thân ị cáo Chang A G sinh ra và lớn lên ở ản Huy P, xã Nậm C, huyện Mù Cang C, tỉnh Yên Bái, không được đi học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1991 xây dựng gia đình với chị Sùng Thị M và làm ăn sinh sống ở địa phương, năm 2010 ly hôn. Năm 2011 chuyển về nhóm Tá Phì C, xã Chung Ch, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Năm 2015 lấy chị Giàng Thị D làm ăn sinh sống ở địa phương. Bị cáo Chang A G có nhận th c rất r , về tác hại của ma túy đối với s c khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.

Trong qúa trình điều tra, truy tố, xét xử ị cáo Chang A G đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy cần phải cách ly ị cáo Chang A G ra khỏi đời sống xã hội, một thời gian nhất định, để cải tạo, trở thành người có ích đồng thời c ng răn đe, phòng ngừa chung trong quần chúng nhân dân và những ai đang có ý định thực hiện hành vi phạm tội như ị cáo Chang A G ị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.

Tại phiên tòa; ị cáo Chang A G đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nh hình phạt cho ị cáo, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hội đồng xét xử, s xem xét, khi lượng hình phạt đối với ị cáo. Bị cáo Chang A G là dân tộc ít người, sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận th c pháp luật con hạn chế.

Căn c khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, ị cáo Chang A G còn ị hình phạt ổ sung là phạt tiền; Hội đồng xét xử, xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của ị cáo Chang A G còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.

Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Mông trả công ằng thuốc phiện cho ị cáo. Cơ quan điều tra không iết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm r . Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.

Về vật ch ng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 132,31 gam thuốc phiện và 01(một) túi vải không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn c Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Chang A G thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

c c l tr n

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên

ị c o: Chang A G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt ị cáo Chang A G: 24 ( Hai mươi ốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giữ ngày 11 tháng 9 năm 2017.

2 .V xử l ậ ch ng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 132,31 gam Thuốc phiện đã niêm phong là vật ch ng vụ án Chang A G.

- 01(một) túi vải không còn giá trị sử dụng.

Theo iên ản àn giao giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé ngày 09 tháng 11 năm 2017.

3. V n ph : Căn c Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Mi n án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chang A G.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt ị cáo. Bị cáo Chang A G được quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ