- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Phan S, Khúc Trường T, Phạm Ngọc T2, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Hồ H1 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13A/2023/HSST. Ngày: 12/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG DƢƠNG NGUYÊN KIM.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ ÔNG LA MINH CÔNG;
2/ ÔNG HUỲNH CẢNH.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: BÀ NGUYỄN THỊ THANH NHI - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG PHAN QUỐC KHÁNH - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2022/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST-HS ngày ngày 27 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
1/ Phan S; sinh năm: 1980, tại Quảng Trị; giới tính: Nam;
Nơi đăng kí hộ khẩu thƣờng trú và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Phan Dƣơng X, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1953. Gia đình bị cáo có có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ tƣ trong gia đình. Vợ: Lê Thị N1, sinh năm 1982; Con: có 03 ngƣời con, sinh năm 2002, 2006 và 2008. Tất cả cùng trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú” từ ngày 10/10/2022 cho đến nay.
2/ Khúc Trƣờng T; sinh năm: 1979, tại Bình Thuận; giới tính: Nam;
Nơi đăng kí HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Khúc Trƣờng V1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1956. Gia đình bị cáo có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1985, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Phan Thị Tố K, sinh năm 1988; Con: có 02 ngƣời, sinh năm 2010 và 2015. Tất cả cùng trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú” từ ngày 10/12/2022 cho đến nay.
3/ Phạm Ngọc T2; sinh năm: 1988, tại Bình Thuận; giới tính: Nam.
Nơi đăng kí HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: trang trí nội thất. Con ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1971. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1996, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Đoàn Thị P, sinh năm 1991; Con: Có 01 ngƣời, sinh năm 2014. Tất cả cùng trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 10/12/2022 cho đến nay.
4/ Phạm Ngọc A; sinh năm: 1980, tại Bình Thuận; giới tính: Nam;
Nơi đăng kí HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Phạm C (đã chết) và bà Trƣơng Thị T5, sinh năm 1942- đã già yếu. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1965, nhỏ nhất sinh năm 1984, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1984. Con: Có 02 ngƣời, sinh năm 2000 và năm 2011. Tất cả hiện trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 07/10/2008, bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù, cho hƣởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án, đến nay đƣơng nhiên đƣợc xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 10/12/2022 cho đến nay.
5/ Lê Hữu V; sinh năm 1992, tại Bình Thuận; giới tính: Nam;
Nơi đăng kí HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Lê Văn D2, sinh năm 1958 và bà Trần Thị N3, sinh năm 1957. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo. Vợ: Lê Thị Thu P1, sinh năm 1998. Con: Có 01 ngƣời, sinh năm 2017. Tất cả cùng trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 10/12/2022 cho đến nay.
6/ Hồ H1; sinh năm 1972, tại Quảng Trị; giới tính: Nam.
Nơi đăng kí HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Hồ N6 (đã chết) và bà Lê Thị A1 (đã chết). Gia đình bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1975; Tất cả cùng trú tại thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vợ: Đặng Thị L1, sinh năm 1975; con: Có 02 ngƣời, sinh năm 2007 và năm 2009.
- Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 10/12/2022 cho đến nay.
Các bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
NLQ; sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 11/9/2022, tại nhà ông Phan S thuộc thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận tổ chức nhậu, tham gia nhậu gồm có Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T. Những ngƣời này nhậu đến khoảng 14 giờ thì rủ nhau đánh bạc đƣợc thua bằng tiền hình thức đánh “bài cào”. Quy định mỗi ngƣời bỏ vào 20.000 đồng và chia cho mỗi ngƣời chơi 03 lá bài, sau đó so bài của ai cao hơn thì T2 hết tiền cƣợc trong ván. Để phục vụ cho việc đánh bài thì S nói con trai của mình là NLQ (sinh năm 2002, trú thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đi mua bài, nƣớc uống và thuốc hút, sau đó trong quá trình đánh bạc nếu ngƣời nào thắng 2-3 ván sẽ góp vào 20.000 đồng để bù lại số tiền mua bài, nƣớc, thuốc lá, nếu thu đủ tiền rồi thì thôi, còn thiếu thì ông S sẽ chịu. NLQ dùng tiền thừa còn lại mà trƣớc đó ông S đƣa để đi mua bia nhậu đi mua bài, nƣớc, thuốc lá về đƣa cho ông S, sau đó đi chơi. Trong quá trình đánh bạc thì những ngƣời này lấy hộp đựng bài để bỏ tiền vào (để bù lại số tiền mua bài, nƣớc, thuốc lá) và để tại sòng. NLQ đi chơi về thì thấy những ngƣời này còn chơi đánh bạc nên ngồi xem và cầm hộp đựng tiền để ai đƣa tiền thì bỏ vào. Những ngƣời này chơi đánh bạc đến hồi 15 giờ cùng ngày 11/9/2022 thì bị Công an huyện H bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền;
- Tiền VNĐ trên chiếu bạc (mặt bàn): 5.100.000 đồng, trong đó: tại vị trí ngồi của Hồ Hoà là 350.000 đồng, vị trí ngồi của Phan S là 1.940.000 đồng, vị trí ngồi của Phạm Ngọc A là 220.000 đồng, vị trí ngồi của Khúc Trƣờng T là 1.510.000 đồng, vị trí ngồi của Phạm Ngọc T2 là 840.000 đồng, giữa sòng bạc là 240.000 đồng.
- Tiền VNĐ thu giữ trên ngƣời các đối tƣợng: 11.320.000 đồng, trong đó: của Hồ H1 là 1.200.000 đồng trong túi phải, của Lê Hòa Vinh là 3.620.000 đồng trong túi quần phải, của Phạm Ngọc A là 6.300.000 đồng trong túi quần phải, của Phạm Ngọc T2 là 200.000 đồng trong túi quần sau.
- Thu giữ của NLQ 01 hộp đựng bài, bên trong có 280.000 đồng.
Nhận thấy các vật chứng trên là công cụ phạm tội hiện đã đƣợc chuyển tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H để bảo đảm việc xử lý.
Quá trình điều tra xác định số tiền dùng để đánh bạc của những người tham gia đánh bạc trong ngày 11/9/2022 theo lời khai của từng người như sau: Phan S sử dụng 2.200.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 260.000 đồng. Phạm Ngọc T2 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thắng 40.000 đồng. Phạm Ngọc A mang theo 6.800.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 280.000 đồng. Lê Hữu V mang theo 3.640.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 20.000 đồng. Khúc Trƣờng T mang theo 1.300.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thắng 210.000 đồng. Hồ H1 mang theo 1.260.000 đồng để đánh bạc, thắng 290.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ trên lời khai của các đối tƣợng thì số tiền thắng/thua của những ngƣời này với nhau không phù hợp, quá trình điều tra đã đấu tranh làm rõ nhƣng không giải quyết đƣợc.
Do đó, trên cơ sở số tiền thực tế thu được tại sòng bạc và số tiền thu trên người của những người chơi bạc, xác định số tiền những người này dùng để đánh bạc như sau: 5.100.000 đồng (thu tại chiếu bạc) + 1.200.000 đồng (trong túi quần của Hồ H1) + 3.620.000 đồng (trong túi quần của Lê Hòa Vinh) + 6.300.000 đồng (trong túi quần của Phạm Ngọc A) + 200.000 đồng (trong túi quần sau của Phạm Ngọc T2) + 280.000 đồng (trong hộp đựng bài). Tổng cộng số tiền dùng để đánh bạc là: 16.700.000 đồng (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
Các đối tƣợng đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Bài cào”, là hình thức những ngƣời tham gia đánh bạc sẽ cƣợc với nhau nên tất cả những ngƣời tham gia đánh bạc sẽ chịu chung trách nhiệm đối với tổng số tiền mà những ngƣời tham gia dùng để đánh bạc. Do đó, các bị Cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T sẽ chịu trách nhiệm về số tiền đánh bạc là 16.700.000 đồng (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
Đối với NLQ: Quá trình điều tra xác định NLQ đƣợc Phan S (là cha ruột của NLQ) nhờ đi mua bài, nƣớc, thuốc lá để phục vụ cho ông S cùng những ngƣời chơi bài. NLQ dùng tiền của ông S để mua bài, nƣớc, thuốc lá và sau đó thì những ngƣời chơi bài tự thỏa thuận với nhau trong quá trình chơi sẽ góp tiền lại để trả cho ông S. NLQ cũng không đƣợc hƣởng khoản tiền hay lợi ích gì từ việc này. Do đó, việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với NLQ là có căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSHTN-HS, ngày 26/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và khung hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận thực hành quyền công tố phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự,
Đề nghị mức hình phạt đối với: Phạm Ngọc A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm; phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị:
Đề nghị mức hình phạt đối với Phan S: từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Đề nghị mức hình phạt đối với Phạm Ngọc T2: từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng
Đề nghị mức hình phạt đối với Hồ H1: từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
Đề nghị mức hình phạt đối với Lê Hữu V: từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm
Đề nghị mức hình phạt đối với Khúc Trƣờng T: từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 16.700.000 đồng (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) gồm: tiền thu giữ tại sòng bạc, tiền đánh bạc thu giữ trên ngƣời của các đối tƣợng tham gia đánh bạc (5.100.000 đồng thu tại chiếu bạc + 1.200.000 đồng trong túi quần của Hồ H1 + 3.620.000 đồng trong túi quần của Lê Hòa Vinh + 6.300.000 đồng trong túi quần của Phạm Ngọc A + 200.000 đồng trong túi quần sau của Phạm Ngọc T2 + 280.000 đồng trong hộp đựng bài). Số tiền này hiện đang đƣợc tạm giữ tại số tài khoản 39490105462600000 đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện H hiện đang tạm giữ tại Ngân hàng I, chi nhánh huyện H (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 10/01/2023).
Đề nghị: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền, 01 hộp đựng bài là các công cụ dùng để đánh bạc và không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H).
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố; trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, hối hận về hành vi của mình, các bị cáo cho rằng bản thân là lao động chính trong gia đình, vì ham vui tức thời mà phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có điều kiện lao động chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác đều không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và cáo trạng mô tả. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 10 giờ ngày 11/9/2022, tại nhà ông Phan S thuộc thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận tổ chức nhậu, tham gia nhậu gồm có Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T. Những ngƣời này nhậu đến khoảng 14 giờ thì rủ nhau đánh bạc đƣợc thua bằng tiền hình thức đánh “bài cào”. Quy định mỗi ngƣời bỏ vào 20.000 đồng và chia cho mỗi ngƣời chơi 03 lá bài, sau đó so bài của ai cao hơn thì thắng hết tiền cƣợc trong ván. Để phục vụ cho việc đánh bài thì S nói con trai của mình là NLQ (sinh năm 2002, trú thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đi mua bài, nƣớc uống và thuốc hút, sau đó trong quá trình đánh bạc nếu ngƣời nào thắng 2-3 ván sẽ góp vào 20.000 đồng để bù lại số tiền mua bài, nƣớc, thuốc lá, nếu thu đủ tiền rồi thì thôi, còn thiếu thì ông S sẽ chịu. NLQ dùng tiền thừa còn lại mà trƣớc đó ông S đƣa để đi mua bia nhậu đi mua bài, nƣớc, thuốc lá về đƣa cho ông S, sau đó đi chơi. Trong quá trình đánh bạc thì những ngƣời này lấy hộp đựng bài để bỏ tiền vào và để tại sòng. NLQ đi chơi về thì thấy những ngƣời này còn chơi đánh bạc nên ngồi xem và cầm hộp đựng tiền để ai đƣa tiền thì bỏ vào. Những ngƣời này chơi đánh bạc đến hồi 15 giờ cùng ngày 11/9/2022 thì bị Công an huyện H bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền; Tiền VNĐ trên chiếu bạc (mặt bàn): 5.100.000 đồng, trong đó: tại vị trí ngồi của Hồ Hoà là 350.000 đồng, vị trí ngồi của Phan S là 1.940.000 đồng, vị trí ngồi của Phạm Ngọc A là 220.000 đồng, vị trí ngồi của Khúc Trƣờng T là 1.510.000 đồng, vị trí ngồi của Phạm Ngọc T2 là 840.000 đồng, giữa sòng bạc là 240.000 đồng. Tiền VNĐ thu giữ trên ngƣời các đối tƣợng: 11.320.000 đồng, trong đó: của Hồ H1 là 1.200.000 đồng trong túi phải, của Lê Hòa V là 3.620.000 đồng trong túi quần phải, của Phạm Ngọc A là 6.300.000 đồng trong túi quần phải, của Phạm Ngọc T2 là 200.000 đồng trong túi quần sau. Thu giữ của NLQ 01 hộp đựng bài, bên trong có 280.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định số tiền dùng để đánh bạc của những người tham gia đánh bạc trong ngày 11/9/2022 theo lời khai của từng người như sau: Phan S sử dụng 2.200.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 260.000 đồng. Phạm Ngọc T2 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thắng 40.000 đồng. Phạm Ngọc A mang theo 6.800.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 280.000 đồng. Lê Hữu V mang theo 3.640.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thua 20.000 đồng. Khúc Trƣờng T mang theo 1.300.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang đang thắng 210.000 đồng. Hồ H1 mang theo 1.260.000 đồng để đánh bạc, thắng 290.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ trên lời khai của các đối tƣợng thì số tiền thắng/thua của những ngƣời này với nhau không phù hợp, quá trình điều tra đã đấu tranh làm rõ nhƣng không giải quyết đƣợc.
Do đó, trên cơ sở số tiền thực tế thu được tại sòng bạc và số tiền thu trên người của những người chơi bạc, xác định số tiền những người này dùng để đánh bạc như sau: 5.100.000 đồng (thu tại chiếu bạc) + 1.200.000 đồng (trong túi quần của Hồ H1) + 3.620.000 đồng (trong túi quần của Lê Hòa V) + 6.300.000 đồng (trong túi quần của Phạm Ngọc A) + 200.000 đồng (trong túi quần sau của Phạm Ngọc T2) + 280.000 đồng (trong hộp đựng bài). Tổng cộng số tiền dùng để đánh bạc là: 16.700.000 đồng. (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
Các đối tƣợng đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Bài cào”, là hình thức những ngƣời tham gia đánh bạc sẽ cƣợc với nhau nên tất cả những ngƣời tham gia đánh bạc sẽ chịu chung trách nhiệm đối với tổng số tiền mà những ngƣời tham gia dùng để đánh bạc. Do đó, các bị can Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T sẽ chịu trách nhiệm về số tiền đánh bạc là 16.700.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nƣớc về quản lý trật tự công cộng, đồng thời gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt cần xem xét tính chất mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt thích hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình; bị cáo Phan S có ngƣời thân có công cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần đƣợc xem xét; trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nƣớc, không vi phạm gì, điều đó thể hiện các bị cáo có ý thức tự cải tạo bản thân tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo hƣởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 16.700.000 đồng. (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) đồng là tiền các đối tƣợng dùng để đánh bạc, đây là số tiền phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc. Đối với 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền, 01 hộp đựng bài là các công cụ dùng để đánh bạc và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H quản lý để đảm bảo việc xử lý).
Đối với NLQ: Quá trình điều tra xác định NLQ đƣợc Phan S (là cha ruột của NLQ) nhờ đi mua bài, nƣớc, thuốc lá để phục vụ cho những ngƣời chơi bài. NLQ dùng tiền của bị cáo S để mua bài, nƣớc, thuốc lá và sau đó thì những ngƣời chơi bài tự thỏa thuận với nhau trong quá trình chơi sẽ góp tiền lại để trả cho bị cáo S. NLQ cũng không đƣợc hƣởng khoản tiền hay lợi ích gì từ việc này. Do đó, việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với NLQ là có căn cứ.
Các đối tƣợng đánh bạc tại nhà của bị cáo Phan S, nhƣng việc đánh bạc dùng tiền thắng của các bị cáo để mua bài, nƣớc, thuốc lá và sau đó thì những ngƣời chơi bài tự thỏa thuận với nhau trong quá trình chơi sẽ góp tiền lại để chi trả. Ság cũng không đƣợc hƣởng khoản tiền hay lợi ích gì từ việc này nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với Phan S về tội “Tổ chức đánh bạc”. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Phạm Ngọc A 01 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 02 năm; phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Phan S 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Phạm Ngọc T2 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Hồ H1 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Lê Hữu V 09 tháng, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Khúc Trƣờng T 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.
Giao các bị cáo đƣợc hƣởng án treo cho UBND xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình ngƣời bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành của bản án trƣớc và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng:
Căn cứ: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 16.700.000 đồng (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) gồm: tiền thu giữ tại sòng bạc, tiền đánh bạc thu giữ trên ngƣời của các đối tƣợng tham gia đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc. Số tiền này hiện đang đƣợc tạm giữ tại số tài khoản 39490105462600000 đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện H hiện đang tạm giữ tại Ngân hàng I, chi nhánh huyện H (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 10/01/2023).
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền, 01 hộp đựng bài là các công cụ dùng để đánh bạc và không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H).
ÁN PHÍ:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 12/01/2023). Những ngƣời có quyền kháng cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
( Đã giải thích chế định hƣởng án treo cho bị cáo).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Công an huyện H; - Bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng; - Chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú; - Lƣu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG DƢƠNG NGUYÊN KIM. Các Hội thẩm nhân dân. 1/ ÔNG LA MINH CÔNG; 2/ ÔNG HUỲNH CẢNH Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự; xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2022/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2022. sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: quan điểm về: Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Khúc Trƣờng T phạm tội “Đánh bạc” khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS; khoản 3 Điều 321 BLHS. thách 02 năm; phạt bổ sung 10.000.000 đồng. khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS. năm 06 tháng. khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS. thách 01 năm. khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS. năm. khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS. năm 06 tháng. khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS. thách 01 năm. Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. phƣơng trong việc giám sát, giáo dục quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành của bản án trƣớc và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết 3/3 thành viên. 16.700.000 đồng (Mƣời sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) gồm: tiền thu giữ tại sòng bạc, tiền đánh bạc thu giữ trên ngƣời của các đối tƣợng tham gia đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc. Số tiền này hiện đang đƣợc tạm giữ tại số tài khoản 39490105462600000 đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện H hiện đang tạm giữ tại Ngân hàng I, chi nhánh huyện H (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 10/01/2023). dùng để đánh bạc và không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H). Kết quả biểu quyết 3/3 thành viên. định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khúc Trƣờng T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. pháp luật. Giải thích chế định hƣởng án treo cho bị cáo. Kết quả biểu quyết 3/3 thành viên. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Nguyên Kim CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hàm Thuận Nam, ngày 12 tháng 01 năm 2023 Vào hồi 11 giờ 55 ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại phòng nghị án, Hội đồng Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ 1/ Về tội danh: HĐXX thảo luận toàn bộ nội dung vụ án và thống nhất Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Phạm Ngọc A 01 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Phan S 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Phạm Ngọc T2 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Hồ H1 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Lê Hữu V 09 tháng, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; XỬ PHẠT: Khúc Trƣờng T 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử Giao các bị cáo đƣợc hƣởng án treo cho UBND xã Y, huyện H, tỉnh Bình Gia đình ngƣời bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo Vật chứng của vụ án: Căn cứ: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây, 01 tấm mền, 01 hộp đựng bài là các công cụ Về án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy Buộc các bị cáo Phan S, Phạm Ngọc T2, Hồ H1, Phạm Ngọc A, Lê Hữu V, Quyền kháng cáo của những ngƣời đƣợc quyền kháng cáo theo quy định của THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |