vanban.org

Bản án 139

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Á T, bị cáo Võ Triều V phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1/ Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử: Phạt bị cáo Hồ Á T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành (được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Á T, bị cáo Võ Triều V phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 139/2018/HSST
Ngày: 23/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Thị Ba

+ Bà Nguyễn Thị Minh Yến.

– Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Phƣơng Hồng Liên– kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/Bị cáo:

1.1/ Hồ Á T, sinh năm 1997, tại tỉnh Bến Tre.

- Nơi ĐKNKTT: Số 63B, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tạm trú: Nhà thuê trọ hẻm 5, khu phố 4, phường M, thành phố M,tỉnh tiền Giang.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: 8/12.

- Nghề nghiệp: Không.

- Cha: Hồ Văn B (Đã chết).

- Mẹ: Huỳnh Thị Thúy E, sinh năm 1977.

- Em ruột có 01 người. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

- Chồng: Nguyễn La Đ, sinh năm 1983.

- Bị cáo chưa có con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2018, đến ngày 10/7/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 70 ngày 10/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M.

1.2/ Võ Triều V, sinh ngày 12/12/2000, tại Tiền Giang.

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 28/15A, đường N, Phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Không.

- Trình độ học vấn: 8/12.

- Cha: Võ Kỳ Phúc Q, sinh năm 1964.

- Mẹ: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1973.

- Chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

- Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2018, đến ngày 10/7/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh theo Quyết định số 19 ngày 10/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M.

Người giám hộ cho bị cáo Võ Triều V là ông Võ Kỳ Phúc Q, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: 28/15A, đường N, phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Triều V là bà Lê Huỳnh T là trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tiền Giang.

Các bị cáo tại ngoại.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1/ Nguyễn La Đ, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: Nhà thuê trọ hẽm 5, khu phố 4, phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2.2/ Đặng Thị D, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: Nhà thuê trọ 1/5, phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

3/Người làm chứng:

3.1/Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: Đường L, phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

3.2/ Trần Minh V, sinh năm:1968.

Địachỉ: Ấp B, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lúc 20 giờ 10 phút và 20 giờ 30 phút ngày 01/7/2018, tại khu vực phòng trọ số 2 nhà trọ địa chỉ số 1/5, đường N, Phường M, thành phố M. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M kết hợp với Công an Phường 10, thành phố M kiểm tra hành chính, bắt quả tang Hồ Á T, Võ Triều V đang cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

1. Thu giữ khi bắt quả tang Hồ Á T:

- 01 gói nylon màu trắng được dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nằm trên khuỷu tay phải của Hồ Á T. Tất cả cho vào gói dạng phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ Á Tvà dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M. Ký hiệu I.

- 02 gói nylon màu trắng hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng được để trong túi da màu đen trên nệm trước mặt Hồ Á T. Tất cả cho vào gói dạng phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ Á T và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M. Ký hiệu II.

- 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu được dùng khẩu trang quấn lại và được gói lại trong mảnh giấy báo trên nệm phía sau lưng Hồ ÁT. Tất cả cho vào gói dạng phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ ÁT và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M. Ký hiệu III.

- 01 túi da nhỏ màu đen có nút gài; 01 bình thủy tinh có ghi chữ ABSOLUT-VODKA trên nắp có 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 bình gas mini màu đen; 01 cái kéo kim loại màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có sim Vinaphone và Mobiphone.

2. Thu giữ khi bắt quả tang Võ Triều V:

-01 gói nylon màu trắng hàn kín dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng cho vào phong bì niêm phong có chữ ký Võ Triều V và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M.

Căn cứ bản kết luận giám định số 119/KLGĐ-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Gói 1: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu I) có chữ ký ghi họ tên: Hồ ÁT và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1943 gam loại Methamphetamine.

- Gói 2: Mẫu tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon màu trắng được hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu II) có chữ ký ghi họ tên: Hồ ÁT và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,8343 gam loại Methamphetamine.

- Gói 3: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán bằng băng keo màu xanh, được quấn lại bằng 01 khẩu trang y tế và 01 mảnh giấy báo, sau đó để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu III) có chữ ký ghi họ tên: Hồ ÁT và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,8901 gam loại Methamphetamine.

Tổng cổng 13,9187 ( 16,429) gam loại Methamphetamine.

Căn cứ bản kết luận giám định số 120/KLGĐ-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Võ Triều V và hình dấu tròn màu đỏ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,5103 gam loại Methamphetamine.

Mẫu ma túy còn lại sau giám định và vật chứng có liên quan hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý.

Hồ Á T và Võ Triều V khai nhận:T,V là người nghiện ma túy. Cách ngày bị bắt khoảng 01 tuần,T dùng 11 con gà đá của chồng tên Nguyễn La Đ, đổi của người thanh niên tên T1 (không rõ họ, địa chỉ) gần Cầu Rượu được 02 gói ma túy lớn,T phân 01 gói ma túy lớn thành 04 gói ma túy nhỏ và 01 gói ma túy lớn chưa phân tổng cộng 05 gói nhỏ để sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 01/7/2018, Võ Triều V đến phòng trọT chơi; T đưa V 01 gói ma túy dán băng keo màu xanh và kêu V cất giữ đem ra quán Karaoke cùng sử dụng; 04 gói ma túy còn lại T cất giữ cụ thể: 01 gói T để ở khuỷa tay phải; 02 gói để trong túi da màu đen và 01 gói dùng khẩu trang quấn lại gói trong mảnh giấy báo để trên nệm. Khi V nhận gói ma túy của T đưa, dán vào vai trái, mở cửa phòng bước ra thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang T, V cùng tang vật. La Đ không biết T, V tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối tượng tên T1 đổi ma túy cho T, do T không rõ họ, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, hiện tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, truy tố Hồ Á T, Võ Triều V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp vật chứng thu giữ, kết quả giám định, lời khai người làm chứng, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKS-HS ngày 26/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Hồ Á T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố Võ Triều V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M nhận định nội dung vụ án và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Triều V từ 09-18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm n,s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Á T từ 06-07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

1. Vật chứng của Hồ ÁT:

- 01 gói nylon màu trắng được dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nằm trên khuỷu tay phải của Hồ Á T. Tất cả cho vào gói dạng phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ Á T và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M Ký hiệu I.

- 02 gói nylon màu trắng hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng được để

trong túi da màu đen trên nệm trước mặt Hồ Á T. Tất cả cho vào gói dạng

phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ Á T và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M. Ký hiệu II

- 01 gói ny lon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu được dùng khẩu trang quấn lại và được gói lại trong mảnh giấy báo trên nệm phía sau lưng Hồ Á T. Tất cả cho vào gói dạng phong bì niêm phong lại có chữ ký Hồ Á T và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M Ký hiệu III.

- 01 túi da nhỏ màu đen có nút gài; 01 bình thủy tinh có ghi chữ ABSOLUT-VODKA trên nắp có 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 bình gas mini màu đen; 01 cái kéo kim loại màu trắng. 02 Sim điện thoại Vinaphone và Mobiphone.

2/ Vật chứng của Võ Triều V:

- 01 gói nylon màu trắng hàn kín dán băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng cho vào phong bì niêm phong có chữ ký Võ Triều V và dấu mộc đỏ của Công an Phường M, thành phố M.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen

Trợ giúp viên Lê Huỳnh T bào chữa cho bị cáo Võ Triều V thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ của Viện kiểm viên: Như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án,tiền sự, bị cáo chưa thành niên, cha bị cáo có công tham gia bảo vệ ở địa phương, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Hồ Á T, Võ Triều V thừa nhận: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Lúc 20 giờ 10 phút và 20 giờ 30 phút ngày 01/7/2018, tại phòng trọ số 2 nhà trọ số 1/5, đường N, Phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang ( phòng trọ do bà D thuê); Võ Triều V tàng trữ trái phép 2,5103 gam ma túy và Hồ Á T tàng trữ trái phép 16,429 gam ma túy (Methamphetamine) thì bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Á T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Võ Triều V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 .

[4] Căn cứ bản kết luận giám định số 119/KLGĐ-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Gói 1: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu I) có chữ ký ghi họ tên: Hồ Á T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1943 gam loại Methamphetamine.

- Gói 2: Mẫu tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon màu trắng được hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu II) có chữ ký ghi họ tên: Hồ Á T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,8343 gam loại Methamphetamine.

- Gói 3: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán bằng băng keo màu xanh, được quấn lại bằng 01 khẩu trang y tế và 01 mảnh giấy báo, sau đó để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu III) có chữ ký ghi họ tên: Hồ Á T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M-CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,8901 gam loại Methamphetamine.

Tổng cổng 13,9187 gam ( 13,9187 gam + 2,5103gam túyT đưa choV 2,5103gam )=16,429gam loại Methamphetamine.

Căn cứ bản kết luận giám định số 120/KLGĐ-PC54 ngày 04/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín được dán băng keo màu xanh, để trong một bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Võ Triều V và hình dấu tròn màu đỏ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,5103 gam loại Methamphetamine.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Từ những chứng cứ trên đủ xác định hành vi của các bị cáo Hồ Á T , Võ Triều V đã phạm tội “ Tàng trữ trái pháp chất ma túy”. Do đó cáo trạng số 121/CT-VKS-HS ngày 26/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố các bị cáo Hồ Á T, Võ Triều V về tội “ Tàng trữ trái pháp chất ma túy” là có cơ sở đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Đối với người tên T1 người bị cáo Hồ Á T đổi 11 con gà để có ma túy, bị cáoT không xác định được họ tên, địa chỉ của T1 nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, hiện đang tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với 11 con gà đá của anh Đ bị cáo T bán đổi ma túy, anh Đ không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xử lý vật chứng:

- 03 (ba) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 119/1; 119/2; 119/3 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L bên nhận Nguyễn Hoàng N.

-01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 120 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L bên nhận Nguyễn Hoàng N.

- 01 túi da nhỏ màu đen có nút gài.

- 01 bình thủy tinh có ghi chữ ABSOLUT- VODKA trên nắp có 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống hút nhựa màu trắng.

- 01 bình gas mini màu đen.

- 01 cái kéo kim loại màu trắng;.

- 02 sim Vinaphone và Mobiphone.

+ Bốn bì thu được niêm phong ký hiệu vụ số 119/1; 119/2; 119/3 và 120 ngày 04/7/2018 là chất ma túy và 02 sim điện thoại bị cáoT dùng liên lạc với anh T để đổi ma túy; 01 túi da; 01 bình thủy; 01 bình ga mini; 01 cái kéo, 01 ống nhựa là dụng cụ bị cáo T, bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen bị cáoT dùng để liên lạc với anh T1 đổi ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

( Theo quyết định chuyển vật chứng số 86/QĐ-VKS-HS ngày 25/10/2018 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2018).

Về Điều luật áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt đến 10 năm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo không có tiền án, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức được rằng ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, các bị cáo biết rõ những tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với con người cũng như những tác hại gián tiếp cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng, thể hiện việc xem thường pháp luật của các bị cáo, cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Riêng đối với bị cáo Võ Triều V phạm tội chưa thành niên. Đối với bị cáoT phạm tội đang mang thai nên Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình cho các bị cáoV, bị cáoT.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận

Lời bào chữa của trợ giúp viên phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần lời bào chữa của trợ giúp viên bào chữa cho bị cáoVương.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình söï vaø điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng aùn phí, leä phí Toøa aùn, mỗi bị cáo phaûi chòu aùn phí hình söï sô thaåm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Á T, bị cáo Võ Triều V phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.1/ Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử: Phạt bị cáo Hồ Á T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành (được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2018 đến ngày 10/7/2018).

1.2/ Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử: Phạt bị cáo Võ Triều V 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành ( được trừ thời hạn tạm gaim từ ngày 01/7/2018 đến ngày 10/7/2018).

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sư năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 03 (ba) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 119/1; 119/2; 119/3 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L bên nhận Nguyễn Hoàng N.

-01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 120 ngày 04/7/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T2, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L bên nhận Nguyễn Hoàng N.

- 01 túi da nhỏ màu đen có nút gài.

- 01 bình thủy tinh có ghi chữ ABSOLUT- VODKA trên nắp có 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống hút nhựa màu trắng.

- 01 bình gas mini màu đen.

- 01 cái kéo kim loại màu trắng;

- 02 sim Vinaphone và Mobiphone.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

( Theo quyết định chuyển vật chứng số 86/QĐ-VKS-HS ngày 25/10/2018 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2018).

4/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoán 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hồ Á T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Võ Triều V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo Hồ Á T, bị cáo Võ Triều V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn La Đ, bà Đặng Thị D ,người giám hộ ông Võ Kỳ Phúc Q, người bào chữa trợ giúp viên bà Lê Huỳnh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ