- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Anh K phạm tội "Đánh bạc" - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2026/HS-PT Ngày: 19-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan.
Các Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng - Cơ sở A, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 114/2026/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo Lê Anh K, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo: LÊ ANH K – sinh năm 1989; Tên gọi khác: Quậy; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận (nay là Lâm Đồng). Nơi cư trú: Khu phố B - P, phường P, tỉnh Lâm Đồng. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn (văn hóa): 12/12. Cha: Lê Văn T, sinh năm 1952 (đã chết); Mẹ: Lê Thị Minh P, sinh năm 1957; Hiện nội trợ và đang trú tại khu phố B - P, phường P, tỉnh Lâm Đồng. Vợ: Lê Thị Ánh S, sinh năm 1990. Hiện nội trợ và đang trú tại khu phố B - P, phường P, tỉnh Lâm Đồng. Có 01 con sinh năm 2026. Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 23/4/2024, Lê Anh K bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 BLHS, tại Bản án số 63/2024/HSST, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 23/7/2024 (chưa xóa án tích). Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 05 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma tuý thuộc Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận (cũ) phối hợp Công an xã H (nay là phường H) tuần tra phòng chống tội phạm tại khu vực xã H, huyện H (cũ). Khi đến khu vực đất trống phía sau xưởng sản xuất nước mắm thuộc thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố U, phường H, tỉnh Lâm Đồng) thì phát hiện có nhiều người đang tụ tập đánh bạc dưới hình thức đá gà nòi được thua bằng tiền. Tổ công tác tạm giữ tại vị trí đá gà 01 mành xốp màu đen; 06 cuộn băng keo (trong đó 01 cuộn màu đen, 05 cuộn màu đỏ); 01 cây kéo kim loại cán màu đỏ; 01 thau bằng inox; 01 thùng nhựa màu trắng; 02 con gà nòi, lông màu xám, cùng trọng lượng 3kg. Tạm giữ xung quanh địa điểm đánh bạc 13 xe mô tô các loại gồm các biển số: 86B3-575.98, 86K1-4191, 36B4-653.28, 86B3-566.81, 86K9-5507, 86C1-235.61, 86C1-129.80, 86C1-188.58, 86AA-060.83, 86C1-224.67, 86B3-844.77, 86C1-927.14, 86C1-740.25. Đồng thời, Tổ công tác đã mời 16 người liên quan đến trụ sở Công an huyện H để làm việc gồm: Phạm Thế T1, Lê Văn T2, Văn Vĩnh T3, Lê Văn H, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Anh V, Trần Xuân H1 (T), Lê Chí M, Lê Thị Ngọc H2, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Đồng X (Đen), Trần Ngọc B, Cao Kim K1, Hoàng Khắc S1. Đồng thời, xác minh và làm việc với 03 đối tượng đã bỏ chạy gồm: Phạm Chí C, Võ Thanh P1, Lê Anh K (Quậy).
Qua điều tra đã xác định: Vào khoảng tháng 12/2024, Lê Thanh T6 (Ròm), sinh năm 1985, trú tại khu phố A - P, phường P, tỉnh Lâm Đồng, đến khu vực đám đất trống ở phía sau xưởng nước mắm của Lê Văn T2 ở thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố U, phường H, tỉnh Lâm Đồng) để tổ chức cho nhiều người đánh bạc dưới hình thức đá gà nòi để thu tiền trường (tức là tiền công đứng ra tổ chức), thời gian tổ chức từ khoảng 09 giờ đến 15 giờ cùng ngày, chủ yếu vào các ngày thứ 7, chủ nhật hàng tuần (nhưng không thường xuyên). Những người có gà hoặc những người tham gia cá cược (con bạc) tự liên hệ với nhau tập trung tại địa điểm đá gà của Lê Thanh T6 để “cáp gà” tức là lên kèo cá cược với nhau. Để phục vụ cho việc tổ chức đá gà ăn tiền, Lê Thanh T6 đã chuẩn bị các dụng cụ như mành xốp màu, thau bằng inox, thùng nhựa đựng nước, còn băng keo và kéo thì người chơi đem đến. Trong quá trình tổ chức đá gà, Lê Thanh T6 làm trọng tài cho các cặp gà thả vào mành đá, canh giờ bằng điện thoại di động bàn phím (điện thoại của T6), thời gian được Lê Thanh T6 tính theo từng đốt, mỗi đốt là 20 phút, sau mỗi đốt Lê Thanh T6 cho dừng trận gà lại để cho các chủ gà tự quấn băng keo vào chân và làm nước cho gà. Trận đá gà được phân thắng bại khi một trong hai con gà chết, bỏ chạy hoặc không còn khả năng đá. Tại trường gà không tổ chức hô “biện”, các con bạc tự ý cá cược với nhau trong các đốt thời gian của trận đá gà. Sau khi kết thúc một trận đá gà, chủ gà cá cược thua sẽ trả tiền trường (tức là tiền công Lê Thanh T6 tự đứng ra tổ chức) từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/1 trận và chung tiền cược cho chủ gà thắng. Sau khi kết thúc buổi đá gà, T6 để lại dụng cụ tổ chức đá gà tại đó để hôm khác tiếp tục tổ chức.
Như thường lệ, khoảng 09 giờ sáng ngày 30/12/2024, các chủ gà và những người tham gia cá cược (con bạc) tập trung đông tại địa điểm trên để Lê Thanh T6 tổ chức đá gà cá cược được thua bằng tiền gồm có: Phạm Thế T1, Lê Văn T2, Lê Anh K, Văn Vĩnh T3, Lê Văn H, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Anh V, Trần Xuân H1, Lê Chí M, Lê Thị Ngọc H2, Phạm Chí C, Võ Thanh P1, Nguyễn Đồng X, Lê Văn H3, sinh năm 1972, trú tại khu phố P, phường H, Trương Kỳ N1, sinh năm 1968, trú tại khu phố C - P, phường P cùng tỉnh Lâm Đồng và một số người khác (hiện chưa xác định). Lúc này, Lê Anh K sử dụng con gà nòi lông màu xám đen, trọng lượng 3 kg mang theo cáp (cá cược) với con gà nòi lông màu xám đỏ, trọng lượng 3 kg của Lê Văn T2. Trong trận này tiền cược mỗi chủ gà cá cược với số tiền 3.000.000 đồng/1 chủ gà, trước khi thả gà vào đá Phạm Thế T1 vào Lê Văn T2 hùn số tiền (mỗi người 1.500.000 đồng/người), tổng của Lê Văn T2 và Phạm Thế T1 là 3.000.000 đồng để cá cược với gà của Lê Anh K 3.000.000 đồng, tổng cộng trong trận này là 6.000.000 đồng, tiền của các chủ gà tự giữ. Những con bạc khác đứng xem tự cá cược với nhau. Trong đó xác định được Văn Vĩnh T3 mang theo 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc. Tham gia cá cược với Lê Thị Ngọc H2 800.000 đồng, Nguyễn Văn T5 1.050.000 đồng, Nguyễn Anh V 800.000 đồng, Lê Văn H3 300.000 đồng, Phạm Chí C 700.000 đồng, Lê Văn H 700.000 đồng và người tên D (hiện chưa xác định) với số tiền 970.000 đồng. Tổng số tiền T3 tham gia đánh bạc là 5.320.000 đồng. Trước khi đá, K làm nước và quấn băng keo màu đỏ vào chân con gà của K và Phạm Thế T1 làm nước và quấn băng keo màu xanh vào chân con gà của Lê Văn T2. Khi trận đá gà đang diễn ra đến đốt thứ 3 thì bị Tổ công tác Công an huyện H (cũ) đến kiểm tra và phát hiện, thu giữ nhiều tang vật và đưa 19 người liên quan về trụ sở Công an huyện H (cũ) làm việc, một số con bạc khác sợ bỏ chạy.
Tạm giữ trên người của các con bạc và những người liên quan tổng số tiền là 32.480.000 đồngvà 15 chiếc điện thoại di động các loại gồm:
1. Phạm Thế T1 02 cuộn băng keo (01 cuộn màu xanh và 01 cuộn màu đỏ) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen;
2. Lê Văn T2 số tiền 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động S2 Fold3 5G màu đen;
3. Văn Vĩnh T3 số tiền 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Redmi, loại cảm ứng và 01 tờ giấy hiệu SCOTT có ghi chữ số cá cược;
4. Lê Văn H số tiền 150.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen;
5. Phạm Ngọc T4 số tiền 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh;
6. Nguyễn Văn T5 số tiền 3.600.000 đồng và 01 điện thoại di động Vivo màu xanh;
7. Nguyễn Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại bàn phím màu đen;
8. Nguyễn Anh V số tiền 255.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, loại cảm ứng;
9. Trần Xuân H1 số tiền 9.150.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A15 màu vàng;
10. Lê Chí M số tiền 7.100.000 đồng và 01 điện thoại SamSung màu đen;
11. Lê Thị Ngọc H2 số tiền 160.000 đồng và 01 điện thoại di động OPPO màu xanh;
12. Nguyễn Đồng X số tiền 55.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung A70;
13. Trần Ngọc B số tiền 490.000 đồng và 01 điện thoại SamSung màu đen;
14. Cao Kim K1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, loại cảm ứng;
15. Hoàng Khắc S1 01 điện Iphone 11 màu xanh.
Số tiền đã dùng vào việc đánh bạc của các con bạc trong ngày 30/12/2024 được xác định như sau:
1. Phạm Thế T1 không mang theo tiền, tham gia cá cược 1.500.000 đồng (góp chung với Lê Văn T2 nhưng chưa đưa tiền), không thu giữ được.
2. Lê Văn T2 mang theo 5.000.000 đồng, sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược với Lê Anh K số tiền 1.500.000 đồng và cá cược với Lê Chí M số tiền 1.000.000 đồng. Tạm giữ 5.000.000 đồng, trong đó có 2.500.000 đồng là tiền đánh bạc.
3. Lê Anh K mang theo và sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cược 3.000.000 đồng. Khi bỏ chạy làm rơi mất tiền nên không thu giữ được.
4. Văn Vĩnh T3 mang theo và sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược với nhiều người. Tạm giữ 1.500.000 đồng là tiền đánh bạc.
5. Lê Văn H mang theo và sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 500.000đ với T3. Tạm giữ 150.000 đồng là tiền đánh bạc.
6. Phạm Ngọc T4 mang theo 1.020.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 1.000.000 đồng với Đ và một người khác (không xác định). Tạm giữ 20.000 đồng không dùng đánh bạc, số tiền đánh bạc 1.000.000 đồng khi bỏ chạy làm rơi mất, không thu giữ được tiền.
7. Nguyễn Văn T5 mang theo 3.600.000 đồng, sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 250.000 đồng với T3. Tạm giữ 3.600.000 đồng, trong đó có 350.000 đồng là tiền đánh bạc.
8. Nguyễn Văn Đ mang theo 5.000.000 đồng, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 1.500.000 đồng với H1 và Đ. Tạm giữ 5.000.000 đồng, trong đó có 1.500.000 đồng là tiền đánh bạc.
9. Nguyễn Anh V mang theo và sử dụng 255.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 300.000 đồng với T3. Tạm giữ 255.000 đồng là tiền đánh bạc.
10. Trần Xuân H1 mang theo 9.150.000 đồng, sử dụng 320.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 320.000 đồng với Đ và M. Tạm giữ 9.150.000 đồng trong đó có 320.000 đồng là tiền đánh bạc.
11. Lê Chí M mang theo 7.100.000 đồng, sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cược 1.150.000 đồng với Lê Văn T2, X và người tên B (hiện chưa xác định). Tạm giữ 7.100.000 đồng, trong đó có 1.600.000 đồng là tiền đánh bạc.
12. Lê Thị Ngọc H2 mang theo và sử dụng 160.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cược 200.000 đồng với T3. Tạm giữ 160.000 đồng là tiền đánh bạc.
13. Phạm Chí C mang theo 1.500.000 đồng, sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 500.000 đồng với T3. Khi bỏ chạy làm rơi mất tiền nên không thu giữ được.
14. Võ Thanh P1 mang theo và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Tham gia cá cược 600.000 đồng với một người thanh niên (hiện không xác định). Khi bỏ chạy làm rơi mất tiền nên không thu giữ được.
15. Nguyễn Đồng X, không mang theo tiền, đến tham gia cá cược 500.000 đồng với M (nói miệng). Tạm giữ 55.000 đồng không dùng đánh bạc.
16. Lê Văn H3, không mang theo tiền, đến tham gia cá cược 200.000 đồng với T3 (nói miệng).
17. Trương Kỳ N1, không mang theo tiền, đến tham gia cá cược 500.000 đồng với một người thanh niên (hiện không xác định), (nói miệng).
Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của 17 con bạc được chứng minh là 8.335.000 đồng (trong đó số tiền đánh bạc của Lê Văn T2 2.500.000 đồng, Văn Vĩnh T3 1.500.000 đồng, Lê Văn H 150.000 đồng, Nguyễn Văn T5 350.000 đồng, Nguyễn Văn Đ 1.500.000 đồng, Nguyễn Anh V 255.000 đồng, Trần Xuân H1 320.000 đồng, Lê Chí M 1.600.000 đồng và Lê Thị Ngọc H2 160.000 đồng).
Cách thức đánh bạc dưới hình thức “đá gà” được thể hiện như sau: Lê Thanh T6 là người chuẩn bị dụng cụ, địa điểm phục vụ đá gà. Khi đá gà, mỗi trận hai chủ gà tự chọn cho gà đá với nhau, số tiền cá cược các chủ gà tự giữ, thống nhất. Lê Thanh T6 cân ký gà, làm trọng tài, hô thả gà và bấm đồng hồ canh giờ. Mỗi cặp gà đá diễn ra khoảng 05 đốt (01 đốt là 20 phút), tương đương 100 phút, trong thời gian đá nếu có con gà nào chết hoặc bỏ chạy thì gà của chủ gà đó thua, gà của chủ gà còn lại là thắng, chủ gà thua đưa tiền trường gà cho Lê Thanh T6 từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/1 cặp gà đá. Trong quá trình hai con gà đá với nhau, những người đứng xem xung quanh tự cá cược được thua bằng tiền với nhau theo cách cách thỏa thuận miệng, sau khi xác định được thắng thua thì việc cá cược kết thúc, những người cá cược bên ngoài tự giải quyết tiền thắng thua với nhau.
Quá trình tổ chức đánh bạc, ngày 30/12/2024, trận gà đang đá với nhau chưa kết thúc nên Lê Thanh T6 chưa lấy tiền trường. Số tiền thu lợi bất chính theo khai nhận của Lê Thanh T6 đã nhận được trong thời gian tự tổ chức cho đến ngày 30/12/2024 bị phát hiện khoảng 03 lần là 800.000 đồng. Đến nay, Lê Thanh T6 đã nộp 800.000 đồng, cùng với Lê Văn T2 1.500.000 đồng, Phạm Thế T1 1.500.000 đồng, Lê Anh K 3.000.000 đồng và Văn Vĩnh T3 2.400.000 đồng đã tự nguyện giao nộp lại số tiền để xử lý theo quy định.
Tại bản kết luận giám định chữ viết số 1201/KL-KTHS ngày 07/11/2025 của Phòng K2 - Công an tỉnh L kết luận: Tài liệu gửi giám định: 01 tài liệu có chữ viết, chữ ký mang tên Văn Vĩnh T3 (ký hiệu A). Mẫu so sánh, tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo: 03 tài liệu có chữ ký, chữ viết đứng tên Văn Vĩnh T3 (ký hiệu M1, M2, M3). Kết luận: Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Văn Vĩnh T3 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 do cùng một người viết ra.
Vật chứng thu giữ và xử lý: 02 con gà thu giữ đã bị chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận (cũ) đã lập biên bản tiêu hủy. Đối với số tiền 41.680.000 đồng và 15 chiếc điện thoại các loại. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho: Phạm Thế T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen; Lê Văn T2 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động S2 Fold3 5G màu đen; Văn Vĩnh T3 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Redmi, loại cảm ứng; Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen; Phạm Ngọc T4 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh; Nguyễn Văn T5 3.250.000 đồng và 01 điện thoại di động Vivo màu xanh; Nguyễn Văn Đ 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại bàn phím màu đen; Nguyễn Anh V 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, loại cảm ứng; Trần Xuân H1 8.830.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A15 màu vàng; Lê Chí M 5.500.000 đồng và 01 điện thoại SamSung màu đen; Lê Thị Ngọc H2 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; Nguyễn Đồng X 55.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu S3; Trần Ngọc B 490.000 đồng và 01 điện thoại SamSung màu đen; Cao Kim K1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, loại cảm ứng và Hoàng Khắc S1 01 điện Iphone 11 màu xanh. Đồng thời giao trả lại 12 xe mô tô các loại cho các chủ sở hữu theo đúng quy định. Tổng số tiền đã xử lý, giao trả lại cho các con bạc tiền không liên quan đánh bạc là 26.645.000 đồng. Số tiền còn lại 15.035.000 đồng. Trong đó bao gồm: (của Lê Thanh T6 800.000 đồng; T1 1.500.000 đồng; Lê Văn T2 2.500.000 đồng; T3 2.900.000 đồng; H 150.000 đồng; Tòng 350.000 đồng; Đ 1.500.000 đồng; V 255.000 đồng; H1 320.000 đồng; M 1.600.000 đồng; H2 160.000 đồng và K1 3.000.000 đồng đây là tiền sử dụng để đánh bạc). Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của các con bạc là 15.035.000 đồng cùng với 01 mành xốp màu đen; 08 cuộn băng keo (trong đó 01 cuộn màu đen, 06 cuộn màu đỏ và 01 cuộn màu xanh); 01 cây kéo kim loại cán màu đỏ; 01 thau bằng inox và 01 thùng nhựa màu trắng là những vật chứng của vụ án. Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Lâm Đồng chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Lâm Đồng bảo quản, chờ xử lý. Đối với xe mô tô 86C1-129.80. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L đã xác minh, điều tra nhưng đến nay chưa làm rõ được chủ sở hữu xe. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L tiếp tục tạm giữ, để xác minh, làm rõ và xử lý sau. Đối với 01 tờ giấy hiệu SSCOT có ghi các chữ số cá cược có chữ ký của Văn Vĩnh T3 cùng với 03 đĩa DVD được ghi hình có âm thanh hình ảnh của Lê Văn T2, Phạm Thế T1, Lê Anh K khai nhận vào ngày 30/12/2024 tại khu vực đất trống phía sau xưởng sản xuất nước mắm thuộc thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố U, phường H, tỉnh Lâm Đồng). Lê Văn T2, Phạm Thế T1, Lê Anh K đã góp, hùn tiền để tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi đá gà được thua bằng tiền được chuyển theo cùng hồ sơ vụ án. Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím nhỏ màu đen của Lê Thanh T6 dùng để bấm giờ tham gia tổ chức đánh bạc, khi thấy Tổ công tác đến kiểm tra đã bỏ chạy làm rơi mất (theo lời khai của Lê Thanh T6) nên không thu giữ được.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh K (tên gọi khác: Q) phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Lê Anh K (tên gọi khác: Q) 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên bố về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác; về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Về kháng cáo: Ngày 11/02/2026, bị cáo Lê Anh K kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Lâm Đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội danh là hoàn toàn đúng, không oan; về hình phạt bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Lê Anh K phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 09 giờ sáng ngày 30/12/2024, tại khu vực đất trống phía sau xưởng nước mắm thuộc thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố U, phường H, tinh L). Lê Thanh T6 đã tổ chức cho Phạm Thế T1, Lê Văn T2, Lê Anh K, Văn Vĩnh T3, Lê Văn H, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Anh V, Trần Xuân H1, Lê Chí M, Lê Thị Ngọc H2, Phạm Chí C, Võ Thanh P1, Lê Văn H3, Nguyễn Đồng X và Trương Kỳ N1 tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi “đá gà” được thua bằng tiền để Lê Thanh T6 thu tiền trường (tức là tiền công do Lê Thanh T6 đứng ra tổ chức). Khi Lê Thanh T6 tổ chức thì Lê Văn T2 và Phạm Thế T1 đã hùn tiền góp mỗi người 1.500.000đ, tổng số tiền của Lê Văn T2 và Phạm Thế T1 là 3.000.000đ để theo con gà của Lê Văn T2 cá cược với gà của Lê Anh K 3.000.000đ. Tổng cộng trong trận này là 6.000.000đ, đây là hình thức nhiều người chơi đánh bạc với nhau. Lê Văn T2 tiếp tục sử dụng 1.000.000đ để tham gia cá cược với Lê Chí M. Văn Vĩnh T3 mang theo 1.500.000đ dùng để đánh bạc và tham gia cá cược với Lê Thị Ngọc H2 800.000đ, Nguyễn Văn T5 1.050.000đ, Nguyễn Anh V 800.000đ, Lê Văn H3 300.000đ, Phạm Chí C 700.000đ, Lê Văn H 700.000đ và người tên D (hiện chưa xác định) 970.000đ. Tổng số tiền tham gia đánh bạc của T3 là 5.320.000đ. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày thì bị Đ1 - kinh tế - ma túy Công an huyện H phối hợp Công an xã H (cũ) đến kiểm tra, lập biên bản và tạm giữ dụng cụ đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng (con bạc) tham gia đánh bạc, được xác định trong trận đá gà là 8.335.000đ.
Lê Thanh T6 đã tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000đ trở lên nên đã phạm vào tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Lê Văn T2 sử dụng số tiền đánh bạc là 7.000.000đ, Phạm Thế T1 sử dụng số tiền đánh bạc là 6.000.000đ, Lê Anh K sử dụng số tiền đánh bạc là 6.000.000đ, Văn Vĩnh T3 sử dụng số tiền đánh bạc là 5.320.000đ, Lê Văn H3 đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, trong thời gian chưa được coi là chưa có tiền sự lại tiếp tục đánh bạc với số tiền 200.000đ là phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Lê Anh K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh K thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 23/4/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 23/7/2024, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo không lấy đó làm bài học, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội đánh bạc bằng hình thức cá cược đá gà, được thua bằng tiền, xát phạt nhau. Đây là tệ nạn xã hội dẫn đến hậu quả xấu và tiêu cực cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây bất bình, bức xúc trong đời sống nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, tuân theo pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và xử phạt bị cáo mức án 07 tháng tù là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp các tài liệu Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn (trong đó bị cáo khai mẹ ruột của bị cáo 70 tuổi, sức khỏe yếu, bị bệnh; bị cáo là lao động chính trong gia đình) nhưng chưa được chính quyền địa phương xác nhận về các nội dung này; vợ bị cáo mới sinh con vào tháng 4 năm 2026 (theo Giấy khai sinh bản sao số 638 ngày 13/4/2026 của UBND phường P, tỉnh Lâm Đồng); bị cáo là quân nhân xuất ngũ năm 2011 (Theo Quyết định số 65/QĐ-BCHBP ngày 02/8/2011 của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh B). Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này chưa đủ để Hội đồng xét xử xem xét. Mặt khác, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Hơn nữa, như đã nhận định ở trên bị cáo đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, tái phạm theo quy định tại Điều 2 và khoản 6 Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo chưa đủ các điều kiện được hưởng án treo và thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Lâm Đồng.
[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh K (tên gọi khác: Q) phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Lê Anh K (tên gọi khác: Q) 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Anh K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 19/6/2026.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND Khu vực 12 Lâm Đồng; - VKSND Khu vực 12 Lâm Đồng; - Phòng THADS Khu vực 12 Lâm Đồng; - Công an Xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ và HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Phong Lan |