- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 07/12/2024, tại nhà của Khổng Hà Thanh Xuân địa chỉ số 1/81, khu phố 12, phường Hố Nai, thành phố Biên Hoà, t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Khổng Hà Thanh X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Khổng Hà Thanh X, sinh năm 2000, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: 1, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Bảng hiệu; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ bố và mẹ bà Khổng Thị T, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị giam, giữ tại Phân trại tạm giam khu vực B từ ngày 07/12/2024 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Không Hà Thanh X là người sử dụng trái phép chất ma tuý.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/12/2024, X liên lạc qua tài khoản Facebook của một người tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 05 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) với giá 1.000.000đồng (Một triệu đồng) để sử dụng và hẹn giao tại nhà của X (địa chỉ 1/81, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thì H đồng ý.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến nhà của X và bán cho X 05 gói ma túy như đã thoả thuận. Sau đó, X đem ma tuý về nhà sử dụng hết 01 gói (X sử dụng một mình). Số ma tuý còn lại (04 gói) X cất giấu trong nhà để sử dụng sau.
Khoảng 03 giờ 00 ngày 07/12/2024, trong lúc X đang ở nhà thì bị Công an phường H kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Công an phường H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
- Quá trình điều tra, Khổng Hà Thanh X đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
- Ngày 07/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy bị thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 2508/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,1183 gam, loại Methamphetamine”;
Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKSB ngày 20 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Khổng Hà Thanh X về tội “Tàng trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với đối tượng H (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày bản luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bị cáo Khổng Hà Thanh X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Xử phạt bị cáo Khổng Hà Thanh X 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu Tòa án tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số lượng ma tuý Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định; 01 nỏ thuỷ tinh; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa.
+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei 353069097354144, gắn sim số 0588.496.556 của bị cáo X dùng vào việc phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó đã có căn cứ để kết luận: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 07/12/2024, tại nhà của Khổng Hà Thanh X địa chỉ số A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Khổng Hà Thanh X đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,1182 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường H, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Khổng Hà Thanh X phạm tội “Tàng trự trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xử lý tang vật:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 1,0879gam loại: Methamphetamine được niêm phong theo kết luận giám định số: 2508/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thuỷ tinh; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa.
+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei 353069097354144, gắn sim số 0588.496.556 của bị cáo X dùng vào việc phạm tội.
Đối với đối tượng H (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Khổng Hà Thanh X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Khổng Hà Thanh X 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07 tháng 12 năm 2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 1,0879gam loại: Methamphetamine được niêm phong theo kết luận giám định số: 2508/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thuỷ tinh; 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei 353069097354144, gắn sim số 0588.496.556 của bị cáo X dùng vào việc phạm tội.
(Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND TP. Biên Hòa;
- CA TP. Biên Hoà;
- THADS TP. Biên Hoà;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Hải
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP. Biên Hòa; - CA TP. Biên Hoà; - THADS TP. Biên Hoà; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải |