vanban.org

Bản án 139/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam đối với bị đơn bà Trần Thị Mai T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bị đơn bà Trần Thị Mai T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam số tiền tính đến ngày 07/3/2025 là: 33.031.488 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng). Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam đối với bị đơn bà Trần Thị Mai T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2025/DS-ST
Ngày: 07-3-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Kim Chọn

2. Ông Lê Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 912/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một thành viên M; địa chỉ: phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phạm Thành N; địa chỉ: Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 23/10/2024) (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Mai T, sinh năm 1996; địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2024 và trong quá trình giải quyết, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành Nhân trình bày:

Ngày 05/12/2022, Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M và bà Trần Thị Mai T ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4060641 với số tiền là 32.310.000 đồng; lãi suất từ kỳ thanh toán thứ 1 đến kỳ thanh toán thứ 20 là 4.00%/tháng, lãi suất từ kỳ thanh toán thứ 21 đến kỳ 24 là 0%/tháng; thời hạn vay là từ ngày tiếp theo ngày giải ngân cho đến ngày 05/12/2024. Sau khi ký kết, Công ty Tài chính M đã giải ngân theo đúng quy định trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng cho bà Trần Thị Mai T. Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng, bà Trần Thị Mai T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.131.366 đồng kể từ ngày 05/01/2023 đến ngày 05/11/2024, riêng ngày 05/12/2024 trả số tiền 1.950.133 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 09/8/2023 bà Trần Thị Mai T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty. Tổng số tiền bà T đã thanh toán tính đến ngày 08/8/2023 là 17.050.928 đồng, từ đó đến nay bà T không thanh toán thêm khoản tiền nào khác nữa.

Nguyên đơn đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại và gửi thư đề nghị thanh toán cho bà T nhưng bà Trần Thị Mai T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc bà Trần Thị Mai T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 07/3/2025 là: 33.031.488 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.615.332 đồng; số tiền lãi trong hạn: 8.416.156 đồng.

2. Buộc bà Trần Thị Mai T phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 08/3/2025 cho đến trả hết nợ.

Đối với bị đơn bà Trần Thị Mai T:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định; nhưng bà T vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đều đã được thực hiện đúng quy định nên việc xét xử vắng mặt các đương sự vừa nêu là phù hợp với quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đảm bảo thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Mai T trả số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký, đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn hiện cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

- Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 07/01/2025 đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành Nhân có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng bà Trần Thị Mai T không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt bà T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung:

Căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4060641 với số tiền là 32.310.000 đồng; lãi suất từ kỳ thanh toán thứ 1 đến kỳ thanh toán thứ 20 là 4.00%/tháng, lãi suất từ kỳ thanh toán thứ 21 đến kỳ 24 là 0%/tháng; thời hạn vay là từ ngày tiếp theo ngày giải ngân cho đến ngày 05/12/2024. Căn cứ phiếu báo nợ ngày 06/12/2022, Công ty M đã chuyển tiền cho bà Trần Thị Mai T số tiền 29.000.000 đồng, “nội dung thanh toán M chuyển tiền GN Trần Thị Mai T HĐ 4060641” có cơ sở xác định bà Trần Thị Mai T có vay tiền của Công ty M. Nội dung Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái pháp luật nên có hiệu lực; phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng thì bà T đã thanh toán nợ cho nguyên đơn từ ngày 05/01/2023 đến 09/7/2023. Từ ngày 09/8/2023 đến nay bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng đã ký với nguyên đơn. Tính đến ngày 07/3/2025 bà T còn nợ tổng số tiền là: 33.031.488 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng). Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.615.332 đồng; số tiền lãi trong hạn: 8.416.156 đồng. Công ty M yêu cầu bà T thanh toán một lần toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 08/3/2025 cho đến khi bà T thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 23 và Điều 25 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

Theo kết quả xác minh của Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Công dân Trần Thị Mai T, sinh năm 1996 thực tế cư trú F12/16C ấp 63, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả một lần toàn bộ số tiền còn nợ của Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 (BLTTDS) thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Do bà T không phản đối yêu cầu và chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra nên coi như bà T chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ của Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 07/3/2025 tổng số tiền là: 33.031.488 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng). Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.615.332 đồng; số tiền lãi trong hạn: 8.416.156 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 117, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91, 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam đối với bị đơn bà Trần Thị Mai T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn bà Trần Thị Mai T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam số tiền tính đến ngày 07/3/2025 là: 33.031.488 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng). Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.615.332 đồng; số tiền lãi trong hạn: 8.416.156 đồng.

Kể từ ngày 08/3/2025, bà Trần Thị Mai T còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn và các khoản phí phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4060641 ngày 05/12/2022.

3. Về án phí:

Bà Trần Thị Mai T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.651.574 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng).

Hoàn lại cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 746.235 đồng (Bảy trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng) theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24P số 0051114 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ