- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Công D được ly hôn với chị Đoàn Thị Diệu L
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2024/HNGD-ST Ngày 09.7.2024 V/v “Ly hôn và tranh chấp con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mai Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Trần Thị Thúy Nga và ông Phạm Minh Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam: Bà Lê Thị Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 40/TLST-HNGĐ ngày 21/03/2024 về việc Ly hôn và tranh chấp con chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/7/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Công D, sinh năm 1991.
Trú tại: Thôn Phú Nham, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Diệu L, sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn Trà Châu, xã Duy Sơn , huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh D trình bày:
Anh Phạm Công D và chị Đôàn Thị Diệu L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND Duy Sơn, huyện Duy Xuyên vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng anh D sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nên thường xuyên cãi vả, gia đình không hạnh phúc. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên không thể chung sống được nữa, bản thân anh chị đã sống ly thân được 07 năm nay, anh D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị L
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Công Gia Huy, sinh ngày 22/7/2016. Sau khi ly hôn anh D giao con chung cho vợ nuôi, anh D không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh D khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên đã nhiều lần tống đạt thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho Đoàn Thị Diệu L, Tòa án cũng tiến hành niêm yết công khai tại nhà chị L và trụ sở UBND xã Duy Sơn tuy nhiên chị L không hợp tác, không đến Tòa án để làm việc và không cung cấp lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không tuân thủ các quy định về pháp luật tố tụng dân sự, dù được Tòa án cũng tiến hành niêm yết công khai tại nhà chị L và trụ sở UBND xã Duy Sơn.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Công D với chị Đoàn Thị Diệu L.
+ Về con chung: Đề nghị xử giao cho chị L nuôi con chung tên Phạm Công Gia Huy, sinh ngày 22/7/2016đến 18 tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D không cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
+ Về tài sản chung: Anh D khai không có, không yêu cầu tòa án điều chỉnh nên đề nghị Hội đồng không xét.
+ Về nợ chung: Anh D khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn chị Đoàn Thị Diệu L có địa chỉ thường trú tại xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Chị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố dụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử vắng mặt bị đơn
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Công D và chị Đoàn Thị Diệu L tự nguyện kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Giấy chứng nhận kết hôn số 543, quyển số 153/2016 do UBND xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên cấp ngày 29/8/2016 nên là hôn nhân của chị và anh là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh D sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nên thường xuyên cãi vả, gia đình không hạnh phúc. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên không thể chung sống được nữa, anh D đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Diệu L. Theo Biên bản xác minh ngày 01/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên đối với ông Lưu Liên – Cán bộ tư pháp, xã Duy Sơn thì thấy chị L sinh sống tại địa phương. Bản thân anh D và chị L mâu thuẩn với nhau và đã ly thân không sống chung với nhau được 07 năm nay. Hiện nay chị L mỡ quán buôn bán tại địa phương và có thu nhập ổn định. Tại phiên Tòa anh D khai cả hai vợ chồng sống ly thân lâu nay và không ai có trách nhiệm lo lắng cho nhau theo đúng nghĩa vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn của anh D và chị L đã trầm trọng, anh chị không còn quan tâm, yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị anh D được ly hôn với chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là chung tên Phạm Công Gia Huy, sinh ngày 22/7/2016. Anh D có yêu cầu giao con cho chị L nuôi do hiện nay cháu đang ở với mẹ ổn định, không cần làm xáo trộn cuộc sống của con chung. Tại hồ sơ có bản trình bày của cháu Phạm Công Gia Huy cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu tên Phạm Công Gia Huy, sinh ngày 22/7/2016 cho chị Đoàn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D không có cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Phạm Công D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Công D được ly hôn với chị Đoàn Thị Diệu L
2. Về con chung:
Giao cháu chung tên Phạm Công Gia Huy, sinh ngày 22/7/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Anh Phạm Công D không cấp dưỡng nuôi con chung
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được phép ngăn cản.
3. Về án phí: Anh Phạm Công D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012157 ngày 13 tháng 03 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên.
4. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án 09.8.2024.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS huyện Duy Xuyên; - Cơ quan THA án dân sự Duy Xuyên; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Mai Hùng |