- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Thắng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2023/HS-ST Ngày: 22/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN NT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hiếu
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
NT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NTtham gia phiên tòa: Ông
Đinh Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại nhà văn hoá thị trấn HP, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Toà án nhân dân huyện NT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Đức T, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai;
Hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê Minh Đ và bà Đặng Thị Phước H; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2023 cho tới nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện NT. (Bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 18/02/2023, T và Tâm (chưa rõ nhân thân) cùng nhau uống cà phê tại khu tái định cư Phước Khánh thuộc ấp 2, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Tâm cho T 01 tép ma túy để sử dụng. T cầm tép ma túy trên tay trái, điều khiển xe mô tô biển số 60C2-758.70 về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ 17, ấp 2, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất tinh thể trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1386 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1219 gam.
Tang vật thu giữ:
+ 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 03cm được hàn kín hai đầu, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. (đã được niêm phong)
+ 01 điện thoại di động hiệu Sony màu đen, gắn sim số 0363.674.686 và 01 xe mô tô Vario 125 màu nâu đen của Lê Đức T, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội.
Tại cáo trạng số: 134/CT-VKSNT ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NT truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng 0,1219 gam đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 333/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).
+ 01 điện thoại di động hiệu Sony màu đen, gắn sim số 0363.674.686 và 01 xe mô tô Vario 125 màu nâu đen của Lê Đức T, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình giống như bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, có thái độ ăn năn, hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 18/02/2023, tại ấp 2, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Lê Đức T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1386 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất tinh thể trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1386 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1219 gam.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Đức T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện NT truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, đồng thời nó cũng là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thủ tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Đức T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định có ký hiệu số 333/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
(Số vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện NT tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:
Buộc bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện NT; - Công an huyện NT; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ OANH |