vanban.org

Bản án 139/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 02/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nh dân tối cao.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Nh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Nh 02(hai) năm tù cho hưởng án treo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Nh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nh dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NH DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 139/2021//HSST
Ngày: 02-12-2021

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.

Các Hội thẩm Nh dân:

1. Ông Phạm Công Gia

2. Ông Trịnh Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án Nh dân huyện tân phú tỉnh đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát Nh dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án Nh dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/202/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành Nh (tên gọi khác: Tý); Sinh ngày 10/9/2003 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp 6, xã T, huyện P, tỉnh Đ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Học Sinh; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Văn Tòng, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Trương Tuyết P, sinh năm 1980. Anh chị em ruột có 03 người, bị can là thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị áp dụng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2021 đến nay (có mặt)

Bị hại: Chị Đinh Thị Thu Th, sinh năm 1981 (đã chết)

-Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1981

Địa chỉ: tổ dân phố 12, thị trấn Madaguoi, huyện Đạ Hoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Trương Tuyết P, sinh năm 1980(có mặt)

Địa chỉ: Ấp 6, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

- Người làm chứng: Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ngọc Như: Ông Nguyễn Chí Thuận (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành Nh chưa có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/3/2021, Nh điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 60U6-4275 lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng Dầu Giây – Lâm Đồng và chở theo ban gái là Nguyễn Thị Ngọc Như. Khi đến km 74+770, Quốc lộ 20 thuộc ấp Phú Lâm 1, xã Phú Sơn, đây là đoạn đường đặt trạm thu phí Tân Phú, huyện Tân Phú, lúc này có Chị Đinh Thị Thu Th điều khiển xe mô tô biển số 49L1-118.80, đầu không đội mũ bảo hiểm, chạy vào làn đường dành cho mô tô, xe máy. Nh điều khiển xe mô tô của mình chạy cùng chiều phía sau Chị Th nhưng lại lưu thông vào phần đường dành cho xe cơ giới (có biển cấm xe mô tô, xe máy) với tốc độ 50km/h. Khi qua trạm thu phí được 50m thì Chị Th điều khiển xe mô tô chuyển hướng từ bên phải sang bên trái và đến phần đường dành cho xe cơ giới thì Nh cũng điều khiển xe mô tô chạy tới va chạm vào phần hông bên trái xe mô tô của Chị Th làm cả Nh, Chị Th cùng xe mô tô ngã xuống đường và trượt dài về phía trước có vết cày dài 5m. Xe mô tô của Nh điều khiển nằm đè lên xe mô tô của Chị Th.

Hậu quả Chị Th bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và chết vào ngày 15/3/2021.

Tại bản kết luận giám pháp y về tử thi số 585/TT/2021, ngày 01/4/2021, của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Nai thể hiện: Nguyên Nh chết của Chị Th là do chấn thương sọ não nặng, vỡ nứt xương sọ trán- đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng trán trái; dập xuất huyết não trán – thái dương trái.

Tại đĩa ghi hình được trích xuất từ dữ liệu camera quan sát, ghi nhận Nguyễn Thành Nh điều khiển xe mô tô thiếu quan sát, không chấp hành biển báo giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường quy định, điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 110cm3 nhưng không có giấy phép lái xe nên đã xảy ra va đụng vào hông xe của Chị Th.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận, người điều khiển xe mô tô nêu trên đúng là bị cáo, vụ tai nạn giao thông như đĩa ghi hình mà bị cáo đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú cho xem trong quá trình điều tra đúng là vụ tai nạn giao thông trong vụ án này.

Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo và gia đình đã thỏa thuận, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 127/CT-VKSTP-ĐN ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện Kiểm sát Nh dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thành Nh về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Nh mức án từ 02(hai) năm 06(sáu) tháng đến 03(ba)năm tù nhưng cho hưởng án treo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Xe ô tô biển số kiểm soát 60U6-4275; 49L1-118.80 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú trao trả cho các chủ sở hữu, nên không yêu cầu xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác, nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì đối với tội danh mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị theo như lời luận tội, bị cáo có ý kiến như sau: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vụ tai nạn giao thông xảy ra ngoài mong muốn của bị cáo, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, bị cáo đã thăm hỏi, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả về mặt dân sự. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tự cải tạo, giáo dục bản thân, trở thành công dân sống chấp hành nghiêm pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo cảm thấy ân hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nh dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước khi mở phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo có đơn từ chối Luật sư bào chữa, Tòa án đã thông báo cho Luật sư bào chữa biết theo thông báo số 602TB-TA ngày 30 tháng 11 năm 2021.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nh thành khẩn khai nhận, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/3/2021, Nh điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 60U6-4275 đến km 74+770, Quốc lộ 20 thuộc ấp Phú Lâm 1, xã Phú Sơn, do không có giấy phép lái xe, không chú ý quan sát, không đi đúng làn đường quy định thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 49L1-118.80 do Chị Đinh Thị Thu Th điều khiển. Hậu quả làm cho Chị Th chết khi đang cấp cứu tại Bệnh viện.

Nguyên Nh xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên lỗi phần lớn thuộc về bị cáo, hậu quả vụ tai nạn làm chết một người với lỗi vô ý do quá tự tin. Tuy nhiên bị hại cũng có 01 phần lỗi là do không đội mũ bảo hiểm, không chú ý quan sát khi chuyển hướng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và vi phạm pháp luật hình sự.

Điều 8, khoản 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm “… Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Điều 9, khoản 1 Luật giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như Cáo trạng của Viện kiểm sát Nh dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và Nh thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thành Nh khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật, bị cáo không có giấy phép lái xe, coi thường các quy định pháp luật đã tự ý điều khiển xe mô tô trên 50cc không đi đúng làn đường quy định, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây ra hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại cho tính mạng của người khác, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh nhằm để răn đe và ngăn ngừa tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nh thân bị cáo:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người chưa thành niên (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 6 tháng 4 ngày) do đó có hạn chế nhất định trong nhận thức và điều khiển hành vi, đã thành khẩn khai báo nhận tội, biết ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi gây ra tai nạn bị cáo và gia đình bị cáo tích cực thăm hỏi và bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến tai nạn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 91, điều 101 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên có 2 tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, đang là học sinh học tại Trung tâm giáo dục dạy nghề huyện Tân Phú; có khả năng tự cải tạo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nh dân tối cao, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Nh, buộc bị cáo phải chấp hành thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa P là đủ nghiêm và nhằm thể hiện sự khoan hồng, Nh đạo của pháp luật.

. Về Nh thân: Bị cáo có Nh thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

. Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tổng cộng số tiền là 50.000.000đ (bao gồm các khoản tiền mai táng phí, tổ chức tang lễ và khoản tiền tổn thất về tinh thần) và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng và các tài liệu khác: Xe ô tô biển số kiểm soát 60U6-4275; 49L1-118.80 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú trao trả cho các chủ sở hữu là phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nhưng đề xuất mức hình phạt còn nghiêm khắc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nh dân tối cao.

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Nh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Nh 02(hai) năm tù cho hưởng án treo

Thời gian thử thách là 03(ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thành Nh cho Ủy ban Nh xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nh cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nh phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nh phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ