vanban.org

Bản án 139/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2021/HS-ST
Ngày 21-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Hòa

2. Bà Trần Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Thanh Sơn và Bà Đinh Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn L, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Trú tại: Xóm 8 Hùng Tiến, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Không; Họ tên bố: Hoàng Văn N, sinh năm 1929 (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1943 (đã chết); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Bùi Thị V, sinh năm 1976; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25-02-1993, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Hà xử 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; Ngày 08-06-1999, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo bị tạm giữ ngày 11-8-2021, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30’ ngày 10-8-2021, tại đường dong thuộc xóm 8 Hùng Tiến, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định phối hợp với Công an xã G, huyện T phát hiện Hoàng Văn L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác thu giữ trong túi quần dài bên trái phía trước L đang mặc trên người 01 (một) gói bên ngoài bọc bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bên trong là 01 gói giấy màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng. L khai nhận đó là Heroine L cất giấu trong người để sử dụng cho bản thân. Thu giữ trong túi quần dài bên phải phía trước L đang mặc trên người số tiền 200.000 đồng. Tổ công tác đã niêm phong số Heroine và số tiền đã thu giữ của L theo đúng quy định của pháp luật (ký hiệu là A và A3). Tổ công tác đưa L vào trong nhà L để tiến hành kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang trong buồng nhà L có 03 (ba) đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy là: Phạm Đình T, sinh năm 1988, trú tại: Xóm 10 xã Hoành Sơn, huyện T, tỉnh Nam Định; Nguyễn Văn L1, sinh năm 1998, trú tại: Xóm 12, xã Xuân Phú, huyện X, tỉnh Nam Đinh; Nguyễn Văn C, sinh năm 1984, trú tại: Tổ 12, Thị trấn Xuân Trường, huyện X, tỉnh Nam Định. Quá trình bắt giữ phát hiện, thu giữ trên nền buồng nhà L: 01 (một) vỏ chai nhựa màu vàng trắng, trên bề mặt vỏ chai có dòng chữ “Number 1”, cao khoảng 18 cm, đường kính khoảng 06 cm, trên vỏ chai có gắn 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, dài khoảng 26 cm và 01 (một) đoạn ống thủy tinh màu trắng, trên bề mặt có bám dính các hạt tinh thể rắn màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím có bám dính các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (ký hiệu A1); thu giữ 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng có kích thước khoảng 03x06 cm, trên bề mặt giấy bạc có bám dính chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định (ký hiệu A2); thu giữ trên nền buồng nhà L 01 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu vàng. T, C, L1 đều khai nhận các đồ vật trên là các dụng cụ để sử dụng ma túy. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, T, C, L1 (BL 5-16). Khám xét nơi ở của Hoàng Văn L không thu giữ đồ vật, tài liệu gì (BL 30, 31).

Tại Bản kết luận giám định số 1103/GĐKTHS ngày 12-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng (ký hiệu A) là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng: 0,172 gam; Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu A1) là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng: Không xác định được khối lượng; Mẫu bột màu trắng (ký hiệu A2) là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng: Không xác định được khối lượng (BL 38).

Cơ quan điều tra tiến hành lấy mẫu nước tiểu của các đối tượng và trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1104/GĐKTHS ngày 13-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Có tìm thấy thành phần các chất: Codeine, Morphine, MAM-6 trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn L; Có tìm thấy thành phần Methamphetamine, Codeine, Morphine, MAM-6 trong mẫu nước tiểu của Phạm Đình T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L1 (BL 45).

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Văn L cùng các đối tượng T, C, L1 khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 10 giờ 30’ ngày 10-8-2021, T, C, L1 gặp nhau bàn bạc, thống nhất mỗi người góp 200.000 đồng để mua ma túy đá và Heroine rồi đến nhà L ở xóm 8 Hùng Tiến, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định để mượn nhà L làm nơi sử dụng ma túy. L1 cầm tiền của cả nhóm góp vào đi mua 300.000 đồng tiền ma túy đá và 100.000 đồng tiền Heroine của người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Nam Điền (thuộc xã Xuân Vinh, huyện X, tỉnh Nam Định). T về nhà lấy ống thủy tinh, ống hút nhựa để làm dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó cả ba đi bộ đến nhà L và gặp L tại phòng khách. Tại đây, T nói với L “Chú cho chúng cháu mượn chỗ để sử dụng ma túy đá và Heroine”. L đồng ý và dẫn nhóm của T vào trong buồng rồi đi ra ngoài. Tại buồng nhà L, T lấy chai nhựa ở dưới nền nhà rồi lấy ống thủy tinh và ống hút mà T mang theo để tạo thành chiếc bình sử dụng ma túy đá. Cả ba lần lượt sử dụng ma túy đá xong thì chuyển sang sử dụng Heroine dưới dạng hút. Khi nhóm của T đang sử dụng ma túy thì L1 gọi L vào trong buồng. Tại đây, L1 đưa cho L 200.000 đồng. L cầm tiền rồi đi một mình ra cầu Tiến Châu (thuộc xã G, huyện T, tỉnh Nam Định) mua của một người đàn ông (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng với mục đích sử dụng cho bản thân rồi đi về nhà. Sau đó cả nhóm bị phát hiện, bắt quả tang (BL 91-139, 143-169, 176-194, 200-224).

Đối với người đã bán ma túy cho Hoàng Văn L, do L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh xử lý; Đối với Phạm Đình T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L1, các đối tượng đều có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lượng ma túy còn lại sau khi sử dụng không xác định được khối lượng, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định trả tự do đối với T, C, L1 (BL 171, 173, 195, 197, 225, 228).

Vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ trong vụ án: Đã tiến hành tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1104/GĐKTHS ngày 13-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh nam Định (BL 53, 54); 01 (một) phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1103/GĐKTHS ngày 12-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, 02 bật lửa gas (01 chiếc màu đỏ, 01 chiếc màu vàng), 01 (một) phong bì niêm phong số tiền 200.000 đồng. Toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển theo vụ án để xử lý.

Cáo trạng số 115/CTr-VKS-P1 ngày 04-11-2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Hoàng Văn L về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS, buộc Hoàng Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 năm đến 10 năm tù. Hình phạt bổ sung: đề nghị phạt tiền bị cáo Hoàng Văn Lực từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017 để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng : Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết luận giám định; biên bản đối chất; lời khai người làm chứng và các tài liệu trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 10-8-2021, tại xóm 8 Hùng Tiến, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định, Hoàng Văn L đã có hành vi để cho Phạm Đình T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình. Ngoài ra Hoàng Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,172 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của Hoàng Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn xã G, huyện T.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố bị cáo là Hoàng Văn N được tặng thưởng nhiều Huy chương kháng chiến, Huy chương chiến thắng. HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm trừng trị đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà mình và nhận tiền của các đối tượng để đi mua ma túy sử dụng cho bản thân. Vì vậy, HĐXX quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1103/GĐKTHS ngày 12-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 02 bật lửa gas (01 chiếc màu đỏ, 01 chiếc màu vàng) đã hết ga, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) phong bì niêm phong số tiền 200.000 đồng, đây là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

\QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017. Xử phạt Hoàng Văn L 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017. Xử phạt Hoàng Văn L 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy ”.

Áp dụng Điều 55 BLHS, buộc Hoàng Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-08-2021.

Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, phạt tiền bị cáo Hoàng Văn L 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1103/GĐKTHS ngày 12/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; 02 bật lửa gas (01 chiếc màu đỏ, 01 chiếc màu vàng).

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) phong bì niêm phong số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận tài sản thi hành án số 15/22 ngày 09-11-2021 giữa Phòng PC04 - Công an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Hoàng Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo Hoàng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ