vanban.org

Bản án 139/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị T 321 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2021/HS-PT
Ngày 09-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương.

Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc.

Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 164/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo Lê Thị T. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2021/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo kháng cáo:

Lê Thị T, sinh năm 1974 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 6/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K(đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1943; bị cáo có chồng tên Nguyễn Hữu L, sinh năm 1963 và 02 người con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án: không; tiền sự: ngày 12/11/2020, bị Công an xã A, huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (chấp hành xong, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/4/2021 đến nay (có mặt).

Trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/11/2020, Lê Thị T bị Công an xã A, huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (chưa hết thời hạn được coi chưa bị xử lý hành chính). Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/01/2021, T nhờ bà H nhà ở xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương chở đến nhà ông Nguyễn Văn T tại ấp 5, xã L, huyện P để hát karaoke. Sau đó, ông Đồng Hữu L (Bảy Tèo), bà Phạm Thị T và 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đến nhà ông Tr chơi và hát karaoke, người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch rủ T, ông L1 và bà Th xuống nhà bếp của ông Tr đánh bạc thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Hình thức đánh bài tiến lên như sau: Lấy bộ bài tây 52 lá có sẵn tại nhà của ông Tr chia đều cho 04 người mỗi người 13 lá bài, đánh xoay vòng cho đến khi người nào hết 13 lá bài cầm trên tay thì người đó thắng. Người về sau cùng trả cho người về thứ nhất số tiền 20.000 đồng, người về thứ ba trả cho người thứ hai số tiền 10.000 đồng. Ngoài ra, trong quá trình đánh bạc quy định người nào có 04 con hai là thắng hết ván bài, những người còn lại phải trả tiền cho người thắng số tiền 10.000 đồng, tụ bài nào có bài tứ quý, ba đôi thông được quyền chặt hai rô, hai cơ thì người bị chặt trả số tiền 20.000 đồng, chặt hai bích, hai chuồn thì người bị chặt trả số tiền 10.000 đồng, ai tới trước nhất thì được quyền chia bài. Khoảng 15 giờ 50 phút, người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch nghỉ chơi đi đâu không rõ, ông Lê Hữu K đến nhà ông Tr chơi, thấy mọi người đang đánh bạc, ông K cũng vào tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền cùng với Lê Thị T, ông Đồng Hữu L, bà Phạm Thị Th. Đến 16 giờ 35 phút cùng ngày, Công an xã L phát hiện lập biên bản vi phạm quả tang.

Quá trình điều tra xác định:

- Lê Thị T mang theo 400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, không thắng không thua. Khi bị Công an phát hiện bắt quả tang T bỏ 400.000 đồng ra chiếu bạc.

- Ông Đồng Hữu L mang theo 1.500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị Công an phát hiện bắt quả tang ông L1 thắng được 70.000 đồng, ông L1 bỏ 70.000 đồng ra chiếu bạc, thu giữ trên người của L1 số tiền 1.500.000 đồng.

- Ông Lê Hữu K mang theo 150.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi bị Công an phát hiện bắt quả tang, K bỏ 150.000 đồng ra chiếu bạc.

Như vậy, tổng số tiền Lê Thị T, ông Đồng Hữu L, ông Lê Hữu K, bà Phạm Thị T sử dụng vào việc đánh bạc là 2.120.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ:

- 620.000 đồng trên chiếu bạc.

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 (hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng.

- 1.500.000 đồng trên người của ông Đồng Hữu L.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2021/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

p dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị T 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 25/6/2021, bị cáo Lê Thị T làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Thị T kháng cáo xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về tội “Đánh bạc” chưa hết thời hiệu để xóa vi phạm hành chính đã đánh bạc tiếp, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo. Tuy nhiên, số tiền bị cáo đánh bạc không lớn nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị T được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/01/2021, tại nhà ông Nguyễn Văn Tthuộc ấp 5, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Thị T cùng ông Đồng Hữu L, bà Phạm Thị Tvà ông Lê Hữu K đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tiến lên. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an xã L, huyện P phát hiện lập biên bản vi phạm quả tang, thu giữ số tiền 2.120.000 đồng (trong đó: 620.000 đồng tại chiếu bạc số tiền; thu giữ trên người Đồng Hữu L số tiền 1.500.000 đồng). Tuy tổng số tiền bị cáo T cùng ông Đồng Hữu L, bà Phạm Thị Tvà ông Lê Hữu Kchưa đủ định lượng xử lý hình sự nhưng bị cáo Lê Thị T bị Công an xã A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPVPHC ngày 12/11/2020, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi của bị cáo Lê Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Đối với kháng cáo xin hưởng án treo, xét thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp định tội (số tiền bị cáo cùng những người khác sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân bị cáo sử dụng 400.000 đồng) nên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là nặng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà quyết định áp dụng hình phạt khác là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe giáo dục.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2021/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương như sau:

p dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị T không phải nộp.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ