- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2020/HSST Ngày: 12/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân
1) Ông Nguyễn Văn Khanh
2) Bà Nguyễn Thị Minh Hồng
- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tú –thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.
- §¹i diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 156/2020, ngày 29 tháng 5 năm 2020, theo Qu định đưa vụ án ra xét xử số 152/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn Qu sinh năm 1983. HKTT và chỗ ở: Bản HT, xã CP, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 8/12. Con ông: Lò Văn D, sinh năm 1960. Con bà: Lò Thị P, sinh năm 1965. Gia đình có 04 anh chị em bị cáo là thứ nhất. Vợ: Lò Thị H, sinh năm 1984. Có 02 con, lớn sinh năm 2003; nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000188 lập ngày 21/02/2020 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo có 01 tiền án.
Bản án số 168/2017/HSST ngày 21/9/2017 TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 5/6/2017. Đến ngày 5/12/2018 chấp hành xong về địa phương (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt ngày 18/12/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2-Công an TP Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Hương- Luật sư Văn phòng Luật sư Bảo nhân Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn Sơn sinh năm 1991. Trú tại: Ngõ 83, tổ 1, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.(có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 18/12/2019 Qu đi xe máy một mình từ phòng trọ tại tổ 1 Phúc Lợi, Long Biên, Hà Nội qua cầu Đuống theo hướng lên Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi Qu đi đến đoạn đường có biển báo hết địa phận Hà Nội thì thấy 01 nam thanh niên đứng cạnh biển báo nhìn giống người nghiện nên Qu hỏi anh ta có ma túy bán không, anh ta nói có, Qu bảo bán cho 200.000đồng, anh ta cầm tiền rồi bảo Qu đứng chờ. Sau đó, anh ta đi đâu khoảng 05 phút rồi quay lại đưa cho Qu 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, Qu đi xe máy về tìm nơi sử dụng, đến đê Giang Biên, thuộc tổ 4 phường Giang Biên thì bị lực lượng công an kiểm tra, Qu đã tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy cho cơ quan công an và khai nhận gói ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Cơ quan công an đã lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa Qu về trụ sở để làm việc.
Tang, tài vật thu giữ của Qu: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 xe máy kiểu dáng Dream màu trắng nâu, BKS: 18S2-8790, xe đã qua sử dụng.
Kết luận giám định số 8307/KLGĐ-PC09 ngày 26/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng có khối lượng: 0,086 gam là ma túy loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn Qu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm
Bị cáo Lò Văn Qu khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Người bào chữa: Bị cáo là người dân tộc tiểu số, thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý do vậy nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Sơn đề nghị xin nhận lại xem máy vì đây là tài sản hợp pháp của anh. Khi Qu mượn anh không biết Qu sử dụng đề là công cụ đi mua ma túy.
Đại diện Viện kiểm nhân dân quận Long Biên sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên Qu định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời nhận tội và đề nghị như sau:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn Qu từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 18/12/2019.
Về tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,086 gam là ma túy loại Heroine.
Trả lại cho anh Lò Văn Sơn 01 xe máy.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Qu sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn Qu: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 40 phút ngày 18/12/2019, tại khu vực đường đê thuộc tổ 4, phường Giang Biên, quận Long Biên, TP Hà Nội, Lò Văn Qu có hành vi tàng trữ trái phép 0,086 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì tổ công tác Công an phường Cự Khối phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Bản án số 168/2017/HSST ngày 21/9/2017 TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 5/6/2017. Đến ngày 5/12/2018 chấp hành xong về địa phương (chưa được xóa án tích). Đến ngày 18/12/2019 lại có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (0,086 gam Heroine). Do vậy tiền án Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 21/9/2017 được xác định là tình tiết định tội đối với hành vi phạm tội ngày 18/12/2019, bÞ c¸o ph¹m téi lÇn nµy bÞ truy tè theo ®iÓm a kho¶n 1 ®iÒu 249 của Bộ luật hình sự lµ cã c¨n cø. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mua bán, vận chuyển, tang trữ trái phép chất ma túy. Biết là nhà nước nghiên cấm nhưng Qu vẫn cất giữ trái phép 0,086 gam heroin với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Việc bị phát hiện là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước, từ ma túy còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó hành vi vi phạm của bị cáo cần phải nghiêm trị.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Qu có 01 tiền án chưa được xóa. Bản án này đã là tình tiết định tội.Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng tạo môi trường cai nghiện cho bị cáo bởi sự kiểm soát của pháp luật.
BÞ c¸o phạm tội nhất thời, kh«ng cã thu nhËp æn ®Þnh nªn H§XX kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
.Về vật chứng: 0,086 gam Hêroin cho tịch thu tiêu hủy.
. Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Qu tại khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh do Qu khai không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy BKS: 18S2-8790, nhãn hiệu World, kiểu dáng Dream, số khung: 0267944, số máy: 016496 màu nâu tạm giữ của Lò Văn Qu: Qua xác minh BKS 18S2-8790 cho kết quả chủ xe là anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1980, HKTT: Xóm Thượng, Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định, số máy: FMG-02267944, số khung: 110C-0267944; xác minh số máy VDGZS152FMH-KM016496 không tìm thấy dữ liệu tra cứu. Tại bản kết luận giám định số 2765 ngày 15/4/2020 kết luận xe máy kiểu dáng Dream, BKS: 18S2-8790 có số khung: WE110C0267944, số máy: VDGZS152FMH-KM016496 là số nguyên thủy, không giám định BKS: 18S2-8790 do không có mẫu so sánh. Quá trình điều tra xác định, tháng 10/2002 anh Nguyễn Văn D mua và đăng ký chính chủ chiếc xe máy trên. Cuối năm 2017, anh D không có nhu cầu sử dụng chiếc xe máy này nữa nên bán lại cho một người không quen biết với giá 3.000.000đồng. Đến tháng 3/2019, anh Lò Văn Sơn, sinh năm 1991, HKTT: Chiếu Tư – Chiềng Phung – Sông Mã – Sơn La mua lại chiếc xe máy trên của một người phụ nữ không quen biết với giá 1.500.000đồng để sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Đến ngày 18/12/2019, Qu mượn chiếc xe máy trên của anh Sơn nói đi có việc. Việc Qu sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy anh Sơn hoàn toàn không biết. Qua tra cứu số máy 016496 tại phòng cảnh sát giao thông công an TP Hà Nội không tìm thấy dữ liệu xe máy vật chứng. Qua tra cứu BKS 18S2-8790, số máy: 02267944, số khung: 0267944 tại phòng cảnh sát giao thông công an TP Hà Nội không tìm thấy dữ liệu xe máy vật chứng. Do vậy xác định anh Lò Văn Sơn là chủ sử hữu chiếc xe máy. Khi anh Sơn cho bị cáo mượm xe không biết bị cáo dùng để đi mua may túy do vậy thấy cần trả lại anh Sơn.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QuyÕt ®Þnh
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Qu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Qu số 326/2016 của Ủy ban thường vụ vụ Quốc hội.
Xử phạt: Lò Văn Qu 18 (mười tám) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong bên trong có 0,086 gam ma túy loại Heroin hiện đang lưu tại Kho vật chứng Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập kho vật chứng ngày 6 tháng 5 năm 2020.
Trả lại cho anh Lò Văn Sơn chiếc xe máy BKS: 18S2-8790, nhãn hiệu World, kiểu dáng Dream, số khung: 0267944, số máy: 016496 màu nâu đã qua sử dụng. Hiện đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKS quận Long Biên; - Công an quận Long Biên - TAND Thành phố Hà Nội, - VKSND TP Hà Nội; - Phòng quản lý hồ sơ nghiệp vụ Công An Thành phố Hà Nội; - Thi hành án dân sự quận Long Biên - Bộ tư pháp - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Nga |