- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu A - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Phương I (Tý), Nguyễn Phương L (Thỏ) phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2020/HS-ST Ngày: 22-12-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ninh.
2. Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Lam, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2020, đối với các bị cáo:
1. Lê Hữu A, tên gọi khác: không có; sinh năm 1994, tại tỉnh B; nơi cư trú: ấp C, xã D, huyện E, tỉnh B; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Nên, đã chết và bà Nguyễn Thị Nước, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Lê Văn F, tên gọi khác: không có, sinh năm 1990, tại tỉnh B; nơi cư trú: ấp G, xã H, huyện E, tỉnh B; giới tính: nam; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Vui, sinh năm 1965 và bà Dương Ngọc Hiếu, sinh năm 1966; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: ngày 21-02-2020, bị Công an xã Thanh Phước xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Đoàn Văn I, tên gọi khác: Tý, sinh năm 1991, tại tỉnh B; nơi cư trú: ấp K, xã D, huyện E, tỉnh B; giới tính: nam; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Tấn Tài sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Nguyễn Phƣơng L, tên gọi khác: Thỏ, sinh năm 1989, tại tỉnh B; nơi cư trú: ấp C, xã D, huyện E, tỉnh B; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà Nguyễn Thị Chấm, sinh năm 1952; vợ: Cao Thị Ngọc Huệ, sinh năm 1986; con: có 01 người, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tất cả các bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 12/6/2020, Lê Hữu A, Nguyễn Phương L và Đoàn Văn I đi đến nhà của anh Lê Hồng M thuộc ấp C, xã D, huyện E, nhưng nhà của anh M khóa cửa. Lúc này, bị cáo A lấy bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa và 01 dĩa sành, rủ L và I đánh đánh bạc, thắng thua bằng tiền. A sử dụng 344.000 đồng, L sử dụng 1.050.000 đồng, I sử dụng 1.890.000 đồng, cùng nhau tham gia đánh bạc do A làm cái, mỗi ván đặt tiền từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn F mang theo 6.500.000 đồng đến cùng tham gia đặt cược.
Theo quy ước, phía bên trái người làm cái là xỉu, bên phải là tài. Người làm cái dùng 03 hột xí ngầu hình lục giác, trên mỗi mặt có in số nút từ 01 đến 06 để vào dĩa tròn, dùng nắp đậy lại và cầm lắc nhiều lần, sau đó để xuống chờ người tham gia đặt tiền. Khi người làm cái mở nắp nhựa ra, nếu 03 mặt ngửa trên 03 hột xí ngầu cộng lại có số nút từ 03 đến 10 nút là xỉu thì người làm cái thua bên xỉu và thắng bên tài; Nếu từ 11 đến 18 nút là tài thì người làm cái thua bên tài và thắng bên xỉu. Nếu 03 mặt ngửa của 03 hột xí ngầu giống nhau và có tổng số nút 3, 6, 9 là cái bảo xỉu; Tổng số nút 12, 15, 18 là cái bảo tài. Khi cái bảo xỉu thì người làm cái hòa với những người đặt xỉu, thắng những người đặt tài và ngược lại.
Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi A, F, I và L đang đánh bạc thắng thua bằng tiền, trong đó A thắng 200.000 đồng, F thua 260.000, I thua 80.000 đồng, L thắng 140.000 đồng thì bị Công an xã Thanh Phước bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc gồm: 2.200.000 đồng, 03 hột xí ngầu, 01 dĩa sành, 01 nắp nhựa. Công an thu giữ số tiền trên người của các đối tượng dùng đánh bạc gồm: F 6.240.000 đồng, A 44.000 đồng, I 300.000 đồng và L 1.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Kết quả thu giữ vật chứng: 01 (một) nắp chụp nhựa màu đen; 01 (một) dĩa sành màu trắng; 03 (ba) hột xí ngầu; tiền Việt Nam 9.784.000 đồng.
Tất cả đã chuyển cho chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tạm giữ, chờ xử lý.
Về kê biên tài sản: Các bị cáo không có tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKSGD ngày 09-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Văn I, Nguyễn Phương L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Các bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Văn I, Nguyễn Phương L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu A từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Lê Văn F từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn I từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương L từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo F nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải, cam kết không tái phạm.
Các bị cáo còn lại không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thể hiện như sau: Vào lúc 13 giờ, ngày 12-6-2020, tại nhà của anh Lê Hồng M thuộc ấp C, xã D, huyện E, tỉnh B, các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Văn I, Nguyễn Phương L dùng số tiền 9.784.000 đồng để đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị bắt. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với vật chứng được thu giữ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Văn I, Nguyễn Phương L đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn cộng cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo do muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động cực khổ, nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án như sau:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thể hiện như sau:
- Về đồng phạm: Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể, cũng như không có sự cấu kết chặt chẽ trong thực hiện tội phạm nên các bị cáo phạm tội không có tính tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn.
- Bị cáo A là người trực tiếp làm cái, rủ các bị các bị cáo khác tham gia đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án.
- Bị cáo Lê Văn F có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, nhưng không biết tu sửa bản thân, từ bỏ cờ bạc mà lại lại tiếp tục thực hiện tội phạm, có số tiền dùng đánh bạc nhiều nên phải chịu trách nhiệm cao hơn so với các bị cáo còn lại.
- Các bị cáo Đoàn Văn I, Nguyễn Phương L có số tiền dùng đánh bạc thấp nhất nên phải chịu trách nhiệm hình sự sau cùng.
Về hình phạt: Xét thấy, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ sức răng đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) nắp chụp nhựa màu đen; 01 (một) dĩa sành màu trắng; 03 (ba) hột xí ngầu là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với tiền Việt Nam 9.784.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Phương I, Nguyễn Phương L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Phương I (Tý), Nguyễn Phương L (Thỏ) phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Lê Hữu A số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn F số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Phương I (Tý) số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương L (Thỏ) số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3 . Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nắp chụp nhựa màu đen; 01 (một) dĩa sành
màu trắng; 03 (ba) hột xí ngầu.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: tiền Việt Nam 9.784.000 (chín
triệu, bảy trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03-12-2020)
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016:
Các bị cáo Lê Hữu A, Lê Văn F, Đoàn Phương I (Tý), Nguyễn Phương L (Thỏ), mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Sở Tư pháp tỉnh nơi bị cáo ĐKNKTT; - Công an huyện Gò Dầu (02 bản); - Công an xã, thị trấn nơi bị cáo cư trú; - CC THADS h. Gò Dầu; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Nguyện |