- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH TÙNG - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 139/2019/ HSST. Ngày: 16/8/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa : Bà Ngô Thị Vân.
Các hội thẩm nhân dân : Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Bà Nguyễn Thị Tuyết.
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa : Bà Võ Yến Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai thụ lý số 146/2019/TLST-HS ngày 02/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2019/QĐXXST-HS ngày 05/8/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T
Sinh năm: 1974.
Nơi sinh : Hà Nội.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở : Thôn T 1, xã P, huyện B, thành phố H.
Nghề nghiệp: Tự do ; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc : Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Nguyễn Văn G (c) và bà : Phạm Thị N; Vợ : Nguyễn Thị M (đã ly hôn); có 01con sinh 1998.
Tiền sự tại lý lịch tư pháp và tàng thư can phạm thể hiện: 02 tiền sự (hết thời hiệu) ; Tiền án: 01 tiền án (đã hết thời hiệu).
Nhân thân : - Bản án số 166/2011/HSST ngày 29/6/2011, Tòa án nhân dân Quận Ba Đình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tràng trữ trái phép chất ma túy”.( Ra trại ngày 29/4/2013).
Bị cáo bị bắt ngày : 23/4/2019.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 23/4/2019, T gọi điện cho một phụ nữ (không quen biết) hỏi mua 200.000 đồng hêrôin. Người phụ nữ đó hẹn T đến ngõ 160 N để giao hêrôin. Khoảng 09 giờ cùng ngày, T dến chỗ hẹn và mua của chị ta 01 gói hêrôin với giá 200.000 đồng. T cầm hêrôin trong lòng bàn tay trái, vừa điều khiển xe máy đi được khoảng 100 mét thì bị công an bắt giữ tại trước cửa số nhà 158 N, phường N, quận B, thành phố H thì bị tổ công tác công an phường N kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện T đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi là hêrôin. T khai nhận đó là hêrôin vừa mua chưa kịp sử dụng. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, tổ công tác còn thu giữ của T:
- 01 xe máy Wave RSX màu đen trắng biển kiểm soát 30P7 – 2038, 01 ví giả da màu đen, 01 điện thoại Nokia X2 màu đen số sim 0328355280, số tiền: 80.000 đồng.
Kết luận giám định số 2562/KLGĐ-PC09 ngày 29/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H xác định:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng để trong túi nilon là ma túy loại Hêrôin, khối lượng: 0,234gam.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lại lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX màu trắng biển kiểm soát 30P7-2038 qua xác minh là tài sản của anh Nguyễn Ngọc A (SN: 1991, HKTT: Đ, phường L, quận B, thành phố H) là cháu của bị cáo, Ngọc A bán lại xe cho chị Nguyễn Thị H (HKTT: Thôn T, huyện S, Tỉnh T). Chị H không biết việc T sử dụng xe để đi mua ma túy, nên Cơ quan Điều tra đã trao trả chiếc xe cho chị H.
Bản cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 22/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận B truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai : Khoảng 09 giờ, ngày 23/4/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 158 N, phường N, quận B, thành phố H Nguyễn Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,234gam hêrôin trong lòng bàn tay trái với mục đích sử dụng cho bản thân, đã bị tổ công tác Công an phường N, quận B, thành phố H kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt từ 16 đến 20 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy trắng để trong túi nilon là ma túy loại Hêrôin, khối lượng: 0,234gam.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia X2 màu đen số sim 0328355280.
- Trả lại bị cáosố tiền 80.000 đồng và và 01 chiếc ví giả da màu đen.
Tại phiên tòa Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Nguyễn Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ, ngày 23/4/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 158 N, phường N, quận B, thành phố H. Nguyễn Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,234gam hêrôin trong lòng bàn tay trái với mục đích sử dụng cho bản thân, đã bị tổ công tác Công an phường N, quận B, thành phố H kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi trên đây của Nguyễn Thanh T phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do nghiện ma túy và coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo: Là một công dân song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nên đã đi vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo đã có tiền sự và tiền án được đưa đi cải tạo giáo dục, ra trại ngày 29/4/2013. Mặc dù tiền án, tiền sự của bị cáo đã hết thời hiệu đương nhiên được xóa án tích song cho thấy bị cáo là người khó cải tạo và rất coi thường pháp luật. Nên cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên tòa áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy: 0,234gam Hêrôin.
- Đối với số tiền 80.000 đồng, chiếc điện thoại di động Nokia X2 màu đen số sim 0328355280 , cơ quan điều tra thu của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo khai tiền và điện thoại là tài sản của bị cáo nên áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với chiếc ví giả da màu đen tại phiên tòa bị cáo khai ví đã cũ không còn giá trị sử dụng nên không nhận lại nữa, do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào : - Điểm c khoản 1 điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt : Nguyễn Thanh T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2019.
- Căn cứ khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự .
- Căn cứ điều 106, 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,234gam qua giám định có chữ ký của Giám định viên và đối tượng T và 01 chiếc ví giả da màu đen đã cũ . (theo biên bản bàn giao vật chứng số 157 ngày 02/8/2019 tại Chi cục thi hành án Dân sự Quận B).
+ Tịch thu để sung công quỹ Nhà nước: số tiền 80.000 (tám mươi ngàn) đồng của bị cáo (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Kho bạc Nhà nước Quận Ba Đình), 01 chiếc điện thoại di động Nokia X2 màu đen đã qua sử dụng có sim số 0328355280 tịch thu để sung công quỹ Nhà nước (theo biên bản bàn giao vật chứng số 157 ngày 02/8/2019 tại Chi cục thi hành án Dân sự Quận B).
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - Tòa án nhân dân thành phố H. - Viện kiểm sát ND Quận B. - Viện kiểm sát ND thành phố H. - Chi cục thi hành án Dân sự Quận B. - Trại tạm giam số 1 thành phố Hà Nội. - UBND xã P, huyện B, thành phố H. - Bị cáo. - Lưu. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. (Đã ký) Ngô Thị Vân. |