- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Lai B ch H. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2019/DS-PT Ngày: 27-5-2019 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Bà Nguy n Huỳnh Thị Hương Thủy;
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- i di n i n Ki m t nh n d n t nh ồng Th p: Ông Nguy n Văn Phụng - i m sát viên.
Trong các ngày 22/4/2019, 13/5/2019, 20/5/2019 và 27/5/2019 t i trụ s T a án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2019/TLPT-DS ngày 28 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 101/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố S bị kháng cáo.
Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 122/2019/ Đ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lai B ch H, sinh năm 1961; địa ch : Ấp L, xã Đ, huyện H, t nh Vĩnh Long. (Có mặt)
Nơi hiện nay: Đường H, Phường M, thành phố V, t nh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lai B ch H: Luật sư Mai T - Công ty Luật TNHH MTV T – Thuộc Đoàn Luật sư t nh Đồng Tháp, địa ch : QL B, phường M, thành phố C, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1973; địa ch : Đường S, Khóm N, Phường M, thành phố S, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguy n Bảo T, sinh năm 1974; địa ch : Đường S, Khóm N, Phường M, thành phố S, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
4. Người kháng cáo: Bà Lai B ch H, bà Đỗ Thị N - Là nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ N:
- Bà Lai Bạch H trình bày: Bà H, bà N và ông T là chỗ quen biết trong kinh doanh mua bán cám, g o. Do bà N và ông T cần vốn đ kinh doanh nên có vay tiền của bà H nhiều lần, cụ th như sau:
hoảng tháng 5/2016, bà N vay của bà H 01 tỷ đồng, bà H chuy n tiền vào tài khoản của ông T chồng bà N 03 lần số tiền 830.000.000 đồng (không nhớ cụ th từng lần là bao nhiêu, vào thời gian nào) và bà H yêu cầu bà Trần Thị H nh đưa tiền cho bà N 40.000.000 đồng, bà Huỳnh im L đưa tiền cho bà N 130.000.000 đồng (do bà H1 và bà L có nợ tiền của bà H nên bà H yêu cầu đưa cho bà N đ cấn trừ nợ), sau đó bà N có viết biên nhận nợ 01 tỷ đồng (không nhớ thời gian nào). Đến tháng 6/2016 bà N hỏi vay tiếp 01 tỷ đồng, bà H đã chuy n vào tài khoản của ông T 01 tỷ đồng (không nhớ cụ th thời gian nào) cho bà N và ông T vay. Tổng cộng bà H cho bà N, ông T vay 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Ngày 20/6/2016, bà N viết biên nhận nợ số tiền 02 tỷ đồng (trong đó có khoản vay 01 tỷ đồng trước nên xé bỏ biên nhận nợ 01 tỷ đồng này), mục đích vay là đ mua bán cám g o, lãi suất 2,25%/tháng, không có thế chấp tài sản, không thỏa thuận thời h n vay. Sau khi vay bà N, ông T có đóng lãi cho bà H được 11 tháng, số tiền 440.000.000 đồng, từ tháng 5/2017 ngưng đóng lãi cho đến nay, chưa trả vốn.
Tháng 02/2017 bà N, ông T vay tiếp số tiền 600.000.000 đồng (bà H chuy n vào tài khoản của ông T số tiền 590.000.000 đồng và cộng 10.000.000 đồng bà N nợ bà H tiền mua cám, g o), bà N viết biên nhận ngày 20/02/2017 nợ số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), mục đích vay là đ mua bán cám, g o, lãi suất 2,25%/tháng, không có thế chấp tài sản, không thỏa thuận thời h n vay. Sau khi vay bà N, ông T có đóng lãi cho bà H được 03 tháng số tiền 36.000.000 đồng, từ tháng 5/2017 ngưng đóng lãi và chưa trả vốn. Ngày 09/8/2017, bà N có trả lãi cho bà H số tiền 20.000.000 đồng.
Tổng cộng các lần vay bà N, ông T nợ bà H số tiền vốn gốc 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng).
Nay bà H yêu cầu bà Đỗ Thị N và ông Nguy n Bảo T liên đới trả số tiền vốn gốc 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi t m tính từ ngày 20/5/2017 đến 26/11/2018 là 18 tháng 06 ngày: 2,6 tỷ x 1,666%/tháng x 18 tháng 06 ngày = 788.351.200 đồng. Bà H đồng ý cấn trừ 20 triệu đồng lãi đã nhận ngày 09/8/2017 vào tiền lãi phải trả (788.351.200 đồng - 20.000.000 đồng = 768.351.200 đồng); Tổng cộng vốn và lãi là 3.368.351.200 đồng. Ngoài ra, bà H không c n yêu cầu nào khác.
- Bà Đỗ Thị N trình bày: Bà N không thống nhất theo lời trình bày của bà H, bà N xác định không có vay tiền của bà H, cũng như không có đóng lãi cho bà H. Tuy nhiên, bà N có viết và ký tên vào biên nhận ngày 20/6/2016 và biên nhận ngày 20/02/2017, lý do trước đó bà H có thỏa thuận đưa tiền cho bà N (chuy n vào tài khoản của ông T chồng bà N) đ bà N mua g o cho bà H dự trữ bán lấy lãi. Việc thỏa thuận giữa bà N với bà H cụ th : Bà N mua g o từ các “b n hàng” đem đến bán t i kho của bà N dự trữ giùm bà H, theo cách làm như trên từ đầu năm 2016 đến giữa năm 2016 số g o cụ th bao nhiêu không nhớ rõ. Sau đó, bà H thỏa thuận bán số g o dự trữ t i kho của bà H l i cho bà N, với số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), khi đó bà N chưa có tiền thanh toán cho bà H nên bà H tính tiền đưa mua g o chuy n thành nợ vay và phải trả lãi vay 2,25%/tháng. Đồng thời, bà H yêu cầu bà N viết biên nhận nợ 02 tỷ đồng vào ngày 20/6/2016. Tương tự như trên, do bà N mua g o của bà H, không có tiền trả, nên ngày 20/02/2017 bà N viết biên nhận nợ 600 triệu đồng, nhưng thực tế 02 biên nhận trên bà N không có nhận tiền của bà H, mà là nợ tiền mua bán g o.
Với số tiền nợ mua g o của bà H nêu trên, bà N, ông T đã chuy n vào tài khoản của bà H 03 lần t i Ngân hàng N chi nhánh Đồng Tháp, chi nhánh An Giang và Ngân hàng T (Phòng giao dịch S) cụ th :
Ngày 10/01/2017 số tiền 300 triệu đồng; ngày 06/02/2017 số tiền 700 triệu đồng; ngày 10/02/2017 số tiền 1,1 tỷ đồng. Tổng cộng bà N, ông T đã trả cho bà H số tiền 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng) và trong quá trình mua bán cám, g o hai bên cũng đã cấn trừ số tiền 500 triệu đồng c n l i, bà N không c n nợ tiền gì của bà H nên bà N không đồng ý theo yêu cầu của bà H. Mặt khác, t i phiên t a, bà N xác định sau khi viết biên nhận nợ khoản tiền 2,6 tỷ đồng thì bà N có trả lãi cho bà H số tiền 440 triệu đồng bằng cách cấn trừ tiền mua bán g o vào tiền lãi, do đó bà N yêu cầu điều ch nh lãi theo quy định.
Đối với ý kiến bà H cho rằng bà N có trả lãi ngày 09/8/2017 số tiền 20.000.000 đồng và 36.000.000 đồng thì bà N xác định không có trả. Ngoài ra, bà N không c n yêu cầu nào khác.
- Ông Nguyễn Bảo T trình bày: Ông T ch thực hiện việc chuy n tiền, nhận tiền mua bán g o và cám cho bà H theo yêu cầu của bà N. Việc thỏa thuận mua bán, giao dịch giữa bà H và bà N cụ th như thế nào ông T không biết, đối với biên nhận ngày 20/6/2016 và ngày 20/02/2017 ông T không biết. Nay bà N xác định không c n nợ tiền của bà H nên ông T không đồng ý liên đới cùng bà N trả nợ vay cho bà H số tiền vốn và lãi 3.368.351.200đ. Trường hợp, T a án chấp nhận yêu cầu của bà H buộc bà N trả nợ cho bà H thì ông T cũng đồng ý liên đới cùng bà N trả nợ cho bà H. Ngoài ra, ông T không c n yêu cầu nào khác.
- Bản án dân sự sơ thẩm của T a án nhân dân thành phố S đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Lai B ch H về việc yêu cầu bà N, ông T liên đới trả số tiền vốn và lãi 3.368.351.200 đồng.
Buộc bà Đỗ Thị N, ông Nguy n Bảo T liên đới trả cho bà Lai B ch H số tiền vốn 251.235.000đ.
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đỗ Thị N, ông Nguy n Bảo T nộp 12.561.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lai B ch H nộp 94.342.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền t m ứng án phí bà Lai B ch H đã nộp 48.040.000đ theo biên lai số 0004726 ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S được chuy n thành án phí, bà Lai B ch H phải nộp thêm số tiền 46.302.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án sơ thẩm c n tuyên về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 12 năm 2018, bà Lai B ch H kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc bà N và ông T liên đới trả cho bà N số tiền 2.600.000.000đ và tính lãi đến ngày xét xử phúc thẩm với lãi suất 1,666%/tháng và bà H không chịu án phí sơ thẩm.
Ngày 14 tháng 12 năm 2018, bà Đỗ Thị N kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lai B ch H, không buộc bà N và ông T liên đới trả cho bà H số tiền vốn 251.235.000đ.
- T i phiên t a phúc thẩm:
+ Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, không thỏa thuận được với nhau đ giải quyết vụ án và kháng cáo yêu cầu vợ chồng bà N trả vốn lãi vay như nói trên.
+ Bị đơn: hông đồng ý trả tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm, vì đã trả nợ cho bà H xong.
- Đ i diện Viện ki m sát T nh phát bi u ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự trong thời gian chuẩn bị xét xử và t i phiên t a đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Việc bà N viết 02 biên nhận nợ 20/6/2016, 20/02/2017 là xuất phát từ việc mua bán cám g o. Do bà H có chuy n tiền cho bà N đ mua giùm 500 tấn g o theo biên nhận ngày 14/9/2016, nhưng do chưa mua được nên bà N thống nhất viết biên nhận nợ vay lãi suất 2,25%/tháng.
Sau đó, bà N chuy n tiền vào tài khoản của bà H 2.100.000.000đ theo các chứng từ giao dịch: Ngày 10/01/2017 là 300.000.000đ, ngày 06/02/2017 là 700.000.000đ và ngày 10/02/2017 là 1.100.000.000đ. Bà N trả cho bà H số tiền 2.100.000.000đ đồng nằm trong số tiền 3.350.000.000đ đồng của 500 tấn g o. Mặc dù 500 tấn g o và biên nhận ngày 20/6/2016 đã trả xong nhưng bà H vẫn c n giữ biên nhận. Xét thấy lời trình bày của bà N là phù hợp với tình tiết của vụ án nên chấp nhận. Hơn nữa, bà H thừa nhận bà N, ông T có chuy n trả cho bà H số tiền 2.100.000.000đ vào tài khoản nói trên.
Đối với kháng cáo của bà N cho rằng, sau khi chuy n trả số tiền 2.100.000.000đ, c n l i 500.000.000đ thì đã thỏa thuận cấn trừ nợ tiền mua cám g o, nhưng bà H không thừa nhận vì bà N cũng không có chứng cứ chứng minh. Như vậy, việc bà N cho rằng đã cấn trừ 500.000.000đ với bà H là không có cơ s .
Đối với kháng cáo của bà H, yêu cầu vợ chồng bà N trả số tiền 2.600.000.000đ là không có cơ s , vì đây là giao dịch chung với việc mua bán cám g o; hai biên nhận nợ ngày 20/6/2016, 20/02/2017 xuất phất từ việc mua bán cám g o giữa bà H với bà N mà có. Bà N chuy n tiền vào tài khoản của bà H 2.100.000.000đ. Do đó, T a án cấp sơ thẩm buộc bà N phải trả cho bà H số tiền 500.000.000đ là phù hợp.
Tuy nhiên, qua xem xét các chứng cứ xét thấy: Bà N vay tiền của bà H và có làm biên nhận, ký tên. Đến khi xét xử bà H yêu cầu điều ch nh l i lãi suất cho phù hợp, lẽ ra T a án cấp sơ thẩm khi điều ch nh phải căn cứ vào khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đ điều ch nh cho phù hợp, nhưng T a án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự là chưa đúng. Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H, không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng điều ch nh l i lãi suất.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên t a.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:
[1] Bà Lai B ch H kh i kiện đối với bà Đỗ Thị N và ông Nguy n Bảo T (chồng bà N) tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản là thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án. Bà H, bà N kháng cáo trong thời h n luật định, hợp lệ nên chấp nhận.
[2] Bà H trình bày, vợ chồng bà N có vay tiền của bà, th hiện t i biên nhận ngày 20/6/2016 là 2.000.000.000đ, ngày 20/02/2017 là 600.000.000đ, lãi suất 2,25%/tháng, mục đích đ kinh doanh mua bán g o và cám, thời h n vay đến khi nào bà có nhu cầu thì thông báo cho bà N biết. Nay yêu cầu vợ chồng bà N phải trả số tiền vốn và lãi 3.368.351.200đ.
Bà N cho rằng, bà có kho chứa g o nên bà H có bàn b c với bà về việc mua g o dự trữ, cụ th như sau: Bà H đưa tiền cho bà đ mua g o dự trữ (bà N được hư ng hoa hồng), nhưng khi bà nhận 2.000.000.000đ của bà H thì không mua được g o, nên bà H yêu cầu bà viết biên nhận đ chuy n số tiền này thành tiền vay, vì vậy mới viết biên nhận vay ngày 20/6/2016. Sau đó, bà H chuy n thêm tiền và đã mua được 500 tấn g o giá là 3.550.000.000đ. Tuy nhiên, sau khi mua g o dự trữ xong thì bà H thỏa thuận bán l i cho bà, nên bà phải viết biên nhận ngày 14/9/2017 đ nhận l i 500 tấn g o của bà H. Đối với việc thanh toán tiền mua l i 500 tấn g o của bà H, thì bà đã trả bằng hình thức chuy n khoản và giao tiền mặt, khi đối chiếu thì đã trả thừa 100.000.000đ, nhưng do có mối quan hệ làm ăn thân thiết nên bà chưa nhận l i ngay số tiền trả thừa. Ngoài ra, bà có mua g o khác của H c n thiếu số tiền 600.000.000đ, số tiền nợ này cũng thỏa thuận chuy n thành tiền nợ vay nên mới lập biên nhận vay 600.000.000đ vào ngày 20/02/2017, lãi suất 2,25%/tháng và cũng thanh toán xong.
[3] T i phiên t a phúc thẩm, bà H và bà N xác định 02 bên bắt đầu giao dịch mua bán g o, cám từ tháng 02 năm 2016, thực tế giao nhận tiền rất nhiều lần nhưng không thực hiện việc đối chiếu nợ, mà ch tự theo dõi nên cả 02 bên đều thừa nhận có một số khoản tiền không nhớ ngày giao nhận tiền và nhận cho khoản tiền nào, nay 02 bên hoàn toàn không cung cấp được chứng cứ chứng minh thời gian, địa đi m, hình thức giao nhận tiền cho từng khoản tiền như: Mua bán cám g o, tiền vay, tiền lãi đ làm cơ s giải quyết vụ án. Trên thực tế, các chứng từ tài liệu do bà H, vợ chồng bà N chuy n khoản đều không có ghi nội dung thanh toán rõ ràng. Nay bà H thì cho rằng, số tiền vay với tiền mua 500 tấn g o là 02 khoản khác nhau; vợ chồng bà N thì thừa nhận các biên nhận vay tiền ngày 20/6/2016, 20/02/2017 và biên nhận 500 tấn g o đều do bà viết và ký tên, nhưng do bà H đưa tiền mua g o và trong lúc chưa mua được nên t m chuy n thành tiền vay (02 tỷ đồng) và nợ tiền mua g o của bà H chuy n thành tiền vay (600.000.000đ). Mặt khác, bà H và bà N khẳng định: Bà H khai hiện t i số tiền 500 tấn g o thì vợ chồng bà N trả tổng cộng 08 lần là 3.700.000.000đ (theo bà H khai là thừa 150.000.000đ nhưng đã hoàn trả l i cho bà N xong), ch c n l i 2,6 tỷ đồng tiền vay, ngoài ra không c n nợ nhau khoản nào khác, đồng thời tài liệu chứng cứ là các giấy tờ c n lưu giữ nói trên. Vợ chồng bà N khai việc giao dịch với bà H đã thanh toán dứt đi m không c n khoản nợ nào khác. Như vậy có đủ cơ s xác định việc tranh chấp của các đương sự trong vụ án này là dứt đi m không c n giao dịch nào khác.
[4] Theo trình bày của bà H, việc chuy n tiền cho bà N vay gồm 03 lần là 830.000.000đ, bà H1 đưa cho bà N 40.000.000đ, bà L đưa cho bà N 130.000.000đ và chuy n khoản cho ông T 1.000.000.000đ (nay ch có bà L xác nhận có đưa tiền cho bà N nhưng bà L không biết tiền gì). Bà H thừa nhận không có tài liệu chứng cứ chứng minh cụ th ngày tháng năm giao nhận tiền. Bà N thừa nhận có nhận tiền của bà H đ mua 500 tấn g o, nhưng vì đã lâu nên không nhớ từng khoản tiền giao nhận cụ th , mà ch nhớ các khoản trả tiền chưa mua g o được nên phải chịu lãi.
T i phiên t a, bà H và vợ chồng bà N thống nhất từ ngày 27/12/2016 đến ngày 10/02/2017 vợ chồng bà N trả 3.700.000.000đ đ trừ nợ 3.550.000.000đ (thừa 150.000.000đ), nhưng thực tế bà H vẫn không hoàn trả l i biên nhận bản chính cho bà N, cũng như các giấy tờ mà bà H nhận hàng của bà N thì bà N vẫn c n lưu giữ. ua đó cho thấy, bà N cho rằng 02 biên nhận nợ và biên nhận g o là cùng một số tiền do bà H giao đ mua g o là có cơ s . Vậy số tiền 2.000.000.000đ được thỏa thuận chuy n sang vay sẽ tính lãi từ ngày 20/6/2016. Đối với số tiền thừa 150.000.000đ, bà H không đưa ra được chứng cứ chứng minh đã hoàn trả cho bà N thời gian nào và hình thức nào (bút lục số 104). Bà N xác định khi thanh toán tiền 500 tấn g o (trong đó có 2.000.000.000đ) thì đã trả thừa 100.000.000đ, chưa nhận l i vì đ khấu trừ vào việc mua bán cám g o tiếp theo, nay bà N yêu cầu trừ vào số tiền 600.000.000đ là có cơ s nên chấp nhận. T i phiên tòa, bà N thừa nhận không có căn cứ chứng minh đã trả cho bà H 500.000.000đ, nên phải có trách nhiệm liên đới cùng với ông T trả cho bà H vốn, lãi là phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định. Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 đ giải quyết (đi m c, khoản 1, Điều 2 của Nghị quyết số 01/2019/N -HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao). Vì vậy áp dụng mức lãi suất là 1,125%.
+ Tính lãi số tiền 2.000.000.000đ:
Từ ngày 20/6/2016 – 10/01/2017 là 06 tháng 20 ngày: 2.000.000.000đ X 1,125%/tháng X 6 tháng 20 ngày = 150.000.000đ.
Từ ngày 11/01/2017 – 06/02/2017 là 25 ngày: 1.700.000.000đ X 1,125% X 25 ngày = 15.937.500đ
Từ ngày 07/02/2017 – 10/02/2017 là 03 ngày: 1.000.0000.000đ X 1,125% X 03 ngày = 1.125.000đ.
+ Tính lãi số tiền 500.000.000đ:
Từ ngày 20/02/2017 – 26/11/2018 là 21 tháng 06 ngày: 500.000.000đ X 1,125% = 119.250.000đ.
Tổng các khoản tiền lãi phải trả là 286.312.500đ.
Tính khấu trừ tiền đã trả lãi: (500.000.000đ + 286.312.500đ) – 440.000.000đ = 346.312.500đ.
Bà H trình bày, bà N có trả lãi 20.000.000đ vào ngày 09/8/2017 và tự nguyện trừ l i số tiền này, vậy 346.312.500đ – 20.000.000đ = 326.312.500đ
[5] Đ i diện Viện ki m sát T nh đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bà H, không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa một phần bản án sơ thẩm về tiền lãi là có cơ s (tuy nhiên, Hội đồng xét xử áp dụng lãi suất như nói trên).
[6] Về án phí: Bà H yêu cầu được mi n giảm tiền án phí là không có cơ s nên không chấp nhận, vì vậy phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 92.840.000đ. Bà N, ông T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ trả nợ là 16.315.000đ. Bà H, bà N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà H là có một phần cơ s nên chấp nhận một phần kháng cáo; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N; sửa một phần bản án sơ thẩm. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Lai B ch H. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị N.
Sửa một phần bản án sơ thẩm.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lai B ch H.
2. Buộc bà Đỗ Thị N và ông Nguy n Bảo T liên đới trả cho bà Lai B ch H số tiền 326.312.500đ.
từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà N, ông T chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự:
Bà H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 92.840.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí 48.040.000đ theo biên lai số 0004726 ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S. Vậy bà H phải nộp tiếp số tiền là 44.800.000đ.
Bà N và ông T liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 16.315.000đ.
Bà H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho bà H số tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000đ theo biên lai số 0003558, ngày 14/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Bà N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho bà N số tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000đ theo biên lai số 0003561, ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - V SND T nh; - TAND Tp. S; - Chi cục THADS Tp. S; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |