vanban.org

Bản án 139/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lê Đức T 22 ( hai mƣơi hai ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 23/5/2018. 2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức THịnh tàng trữ chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số:139/2018/HSST
Ngày 02 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tòng Văn Bình

2. Ông Nguyễn Thế Chung

- Thư ký phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nhung - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 138/2018/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 141/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức T - Sinh năm 1961; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ 2, phƣờng C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lê Văn D, con bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ nhƣng đã ly hôn và 02 ngƣời con,con lớn ( đã chết ), con thứ hai đã trƣởng thành; Tiền án: Ngày 17/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 23/5/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 23/5/2018 Tổ công tác công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an thị trấn Sông Mã làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố 1, thị trấn Sông Mã phát hiện bắt quả tang Lê Đức T có hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ là 01 gói ni lon bên trong chứa chất bột màu trắng và màu hồng.

Ngày 28/5/2018 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong cân tịnh, xác định khối lƣợng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Số chất bột màu trắng và màu hồng có khối lƣợng là 0,28 gam đã sử dụng hết gửi giám định ký hiệu T.

Kết luận giám định số 664 ngày 31/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: " Mẫu gửi giám định ký T là ma túy. Loại chất Heroine và Methamphetamine, khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam ".

Quá trình điều tra Lê Đức T khai nhận: Khoảng 19giờ30 ngày 22/5/2018 T đi bộ từ nhà bố mẹ đẻ đến đầu cầu cứng Sông Mã, rồi đi nhờ xe đến bản Ta Hốc, xã Huổi Một. Sau đó T đi lên bản Co Mạ B, xã Huổi Một mục đích tìm mua ma túy về sử dụng, đến nơi T gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông, T hỏi và đã mua đƣợc một viên Hồng phiến và một ít Heroine với số tiền 50.000đ. Khi đã mua đƣợc ma túy T quay về thị trấn Sông Mã, rồi về nhà bố mẹ ngủ. Đến khoảng 10giờ ngày 23/5/2018 T lấy viên Hồng phiến ra nghiền thành bột trộn với số Heroine rồi trích ra một ít sử dụng, số ma túy còn lại T gói lại cất vào túi quần rồi treo quần lên dây phơi quần áo, khi T đang vuốt lại mảnh giấy bạc vừa sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an đến kiểm tra. T đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy và giao nộp số ma túy đang cất dấu.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKSSM ngày 23 tháng 8 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lê Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt từ 22 - 26 tháng tù. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan ; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để sớm đƣợc trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 10h30 ngày 31/5/2018, bắt quả tang Lê Đức T đã có hành vi cất dấu chất ma túy;

- Vật chứng bị thu giữ gồm 01 gói ma túy; Kết luận giám định số 664 ngày 31/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận giám định số ma túy đã thu của bị cáo, đã kết luận: " Mẫu gửi giám định ký T là ma túy. Loại chất Heroine và Methamphetamine, khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam ";

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà bị cáo Lê Đức T thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Bị cáo cũng khẳng định bản thân nghiện ma túy nên bị cáo mua ma túy về chỉ với mục đích để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/5/2018 Lê Đức T đã có hành vi tàng trữ một gói ma túy gồm 02 chất ma túy Heronine và Methamphetamine với khối lƣợng 0,28gam với mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 17/6/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra trƣớc khi bị phát hiện hành bị cáo đã tự giác khai báo và giao nộp số ma túy đang cất dấu, bị cáo có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù khối lƣợng ma túy bị cáo tàng trữ ít nhƣng bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị đƣa ra xét xử về tội ma túy ( một lần đã đƣớc xóa án tích ), là ngƣời nghiện ma túy, nên cần có một mức án phù hợp nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01mảnh nilon, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy màu trắng là những vật chứng liên quan đến vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã mua ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của ngƣời này nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự :

Xử phạt bị cáo Lê Đức T 22 ( hai mƣơi hai ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 23/5/2018.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mảnh nilon màu trắng, 01(một) phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01(một) mảnh giấy bạc, 01(một) mảnh giấy màu trắng.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 02/10/2018./.

Cỡ chữ