vanban.org

Bản án 139/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 11/4/2018. Tịch thu và tiêu hủy 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Ngọc H và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2018/HS-ST
Ngày: 22 - 8 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Soan.

Bà Võ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Ngọc H, sinh năm: 1978, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số 326/8 đường T, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số 312/4/15 đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc T và bà Nguyễn Thị G; Chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/11/1997, Tòa án nhân dân quận P xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (bản án số 146/HSST); b

: 11/4/2018; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13 giờ 20 ngày 11/4/2018, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp với Công an Phường 10, quận Gò vấp,Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra phát hiện Võ Ngọc H đang cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu H khai là ma túy tổng hợp nên tiến hành thu giữ và lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra H khai nhận: do nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 11/4/2018 H gọi điện thoại vào số 01665417518 gặp 01 người phụ nữ không rõ lai lịch hỏi mua 600.000 đồng ma túy tổng hợp thì người phụ nữ này đồng ý bán và hẹn H tại nhà thờ Đức Tin trên đường Phan Văn Trị, Phường 10, Gò Vấp. H điều khiển xe 59V2-790.25 đến chổ hẹn gặp người phụ nữ đưa tiền và lấy ma túy cầm ở tay trái chạy xe về đến trước nhà số 108/3 Phan Văn Trị thì bị kiểm tra phát hiện và bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 738/KLGĐ-H ngày 17/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,1716 gram là loại methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Ngọc H và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp.

- số tiền 14.500.000 đồng

- 02 điện thoại hiệu Nokia có số sim 0929292736 và 0903923943.

- 01 xe gắn máy biển số 59V2-790.25 do Võ Ngọc H đứng tên.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho H Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào xác định được xử lý sau.

Đối với số thuê bao 01665417518 Cơ quan điều tra đã cho xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào có sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 139/CTr-VKS, ngày 16/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Võ Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.

- Tịch thu sung quỹ xe gắn máy biển số 59V2-790.25 và chiếc điện thoại di động nokia có số sim 0929292736

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nokia số sim 0903923943 và 14.500.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với các Điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Võ Ngọc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội.

Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng ...... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập và tiếp tục học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Ngọc H và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp qua giám định là Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành và sử dụng Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với xe gắn máy biển số 59V2-790.25 qua xác minh là do Võ Ngọc H đứng tên sở hữu và chiếc điện thoại di động nokia có số sim 0929292736 là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nokia số sim 0903923943 và 14.500.000 đồng. là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Đối với số thuê bao 01665417518 Cơ quan điều tra đã cho xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 11/4/2018.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Ngọc H và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy biển số 59V2-790.25 số khung RLHJA390XHY277306, số máy JA39E-0277321 và 01 điện thoại di dộng nokia có số sim 0929292736.

- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nokia số sim 0903923943 và 14.500.000 (mười bốn triệu năm trăm ngàn) đồng.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 91/PNK, ngày 23/4/2018 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ