- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà N và ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1386/2019/HNGĐ-ST Ngày 13 - 12 - 2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phẹo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé;
2. Bà Trần Thị Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 13 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 236/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/11/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: Số 154 Tỉnh lộ 8, khu phố 2, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đại T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 21 đường Sa Nhỏ, tổ 3, ấp S, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 14/01/2019, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Đại T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn số 126, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2002. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại nhà chồng ở huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi mới kết hôn, bà đã không cảm nhận thấy hạnh phúc, ông T thường hay rượu chè, cuộc sống vợ chồng gặp nhiều khó khăn và áp lực về mặc tình cảm lẫn kinh tế, tuy sống chung một mái nhà nhưng không hỏi han gì nhau, hay cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận. Bà ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ một thân một mình không có chỗ dựa tinh thần nên đành cam chịu, đến khi con được 03 tuổi, bà không thể chịu đựng được nên bà đã bế con đi về tỉnh Đồng Nai để ở mấy ngày, nhưng ông T cũng chẳng có thái độ quan tâm gì đến. Bà nghĩ thương con quá nên có quay trở về tiếp tục chung sống với ông T, nhưng khi trở về nhà thì ông T đối xử tệ bạc với bà vì cho rằng thời gian vừa rồi bà đi ngoại tình, ông T thường xuyên đi uống rượu, bỏ bê công việc nhà, không chăm lo cho con cái, không có trách nhiệm với con và gia đình. Trở về nhà chồng được có mấy ngày, bà không thể chịu đựng được nên đã ôm con về Bắc ở và chính thức ly thân từ năm 2005 cho đến nay. Sau đó, khoảng năm 2013 bà có nghe tin ông T bị bệnh, nên bà có quay về nhà để chăm sóc ông T. Trong thời gian này bà đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đành bất lực. Sau khi ông T khỏi bệnh, bà trở về Bắc ở luôn cho đến nay. Nay bà xác định không thể tiếp tục chung sống với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh L, sinh ngày 17/10/202. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Bà N trình bày không có.
Ông Nguyễn Đại T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 14/01/2019, bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Đại T hiện đang cư trú tại: Số 21 đường Sa Nhỏ, tổ 3, ấp Sa Nhỏ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Đại T đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn không đến để tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Đại T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Đại T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 126, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2002. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của bà Nguyễn Thị N thì từ khi mới kết hôn, bà đã không cảm nhận thấy hạnh phúc. Nguyên nhân do ông T thường hay rượu chè, bỏ bê công việc nhà, không chăm lo cho con cái, không có trách nhiệm với con và gia đình, cuộc sống vợ chồng gặp nhiều khó khăn và áp lực về mặc tình cảm lẫn kinh tế, tuy sống chung một mái nhà nhưng không hỏi han gì nhau, hay cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận. Ngoài ra, ông T thường hay đổ oan cho bà là đi ngoại tình. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2005 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Ông T đã được Tòa triệu tập nhưng ông không đến Tòa, đồng thời cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến chứng tỏ ông T không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho Bà N được ly hôn với ông T theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh L, sinh ngày 17/10/2002. Bà N có yêu cầu nuôi dưỡng con chung. Xét con chung hiện đang sống chung với Bà N; trẻ Nguyễn Minh L cũng có nguyện vọng sống chung với mẹ, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử quyết định giao 01 con chung cho Bà N nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, Bà N tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Bà N trình bày không có.
Ông Nguyễn Đại T vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông T có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Đại T.
Kể từ ngày 13/12/2019, Giấy chứng nhận kết hôn số 126, quyển số 01/2002 do tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/2002 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh L, sinh ngày 17/10/2002.
Bà Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung; ghi nhận sự tự nguyện của Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày không có.
Nếu ông T có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị N phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0008110 ngày 05/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - UBND xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Phẹo |