vanban.org

Bản án 138

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/09/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo Phạm Anh T. B n án hình sự sơ thẩm s 29/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông có hiệu lực pháp luật đ i với bị cáo Phạm Anh T kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/9/2023).

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Anh T, sửa b n án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn D, giữ nguyên hình phạt như b n án sơ thẩm đã xét xử đ i với bị cáo Dũng; Tuyên b bị cáo Lương Ngọc Anh T (Tuấn Trang), Vũ Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lương Ngọc Anh T. Vi phạm...rừng và lâm sản - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo Phạm Anh T. B n án hình sự sơ thẩm s 29/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông có hiệu lực pháp luật đ i với bị cáo Phạm Anh T kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/9/2023).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự đ i
T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 138/2023/HS-PT
Ngày: 13-9-2023

NHÂN DANH

N C CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 166/2023/TLPT-HS ngày 27/8/2023 đ i với bị cáo Lương Ngọc Anh T cùng đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 29/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Lương Ngọc Anh T, tên gọi khác: (Tuấn Trang); sinh năm 1990 tại Nam Định; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn ĐT, xã PL, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; con ông Lương Thanh Kim (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nga; vợ là Bùi Thị Huyền Trang, sinh năm 1991 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đam Rông. Có mặt.

2. Họ và tên: Phạm Anh T, tên gọi khác: (Tuấn Tửu); sinh năm 1986 tại Nam Định; nơi ĐKHKTT: Thôn Ph C, xã Đ R, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện nay: Buôn Đ Tr, xã K’Rông Nô, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm mộc; giới tính: Nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; con ông Phạm Đình T và bà Vũ Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đam Rông. Có mặt.

3. Họ và tên: Vũ Văn D, sinh năm 1991 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện nay: Buôn Đ Tr, xã K’R N, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm mộc; giới tính: Nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; con ông Vũ Văn V và bà Vũ Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2023, đến ngày 17/3/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn B o lĩnh. Vắng mặt (gửi đơn xin hoãn phiên tòa).

Trong vụ án này, còn có các bị cáo khác và nguyên đơn dân sự không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Anh T làm xưởng mộc tại buôn Đắk Tro, xã Krông Nô, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, có quen biết với Lương Ngọc Anh T (Tuấn Trang), ở xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian trước năm 2023, do cần gỗ để làm thành phẩm nên Phạm Anh T gọi điện thoại cho Lương Ngọc Anh T, đặt vấn đề mua gỗ Thông. C hai th ng nhất giá từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng/m3 tuỳ loại gỗ đẹp, xấu. Khi nào có gỗ thì Lương Ngọc Anh T sẽ thông báo cho Phạm Anh T đưa xe Ô tô đến Phi Liêng chở gỗ về xưởng, đồng thời nhờ Lương Ngọc Anh T thuê người b c gỗ lên xe. Giá thuê công b c gỗ từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/lần, người tr tiền công b c gỗ là bị cáo Phạm Anh T.

Đến ngày 14/01/2023, Lương Ngọc Anh T đem theo máy cưa xăng cầm tay lên lô b kho nh 3 tiểu khu 216, xã Phi Liêng cắt hạ 05 cây Thông 03 lá, đường kính từ 30 cm đến 50 cm, nằm sát đường đi. Vài ngày sau, Lương Ngọc Anh T gặp Nguyễn Viết Hùng Sơn và nhờ Sơn đi b c gỗ lên xe ô tô. Sơn đồng ý, nên Lương Ngọc Anh T ứng trước tiền công cho Sơn với s tiền là 5.000.000 đồng. Trưa ngày 21/01/2023, Lương Ngọc Anh T lên khu vực đã cắt 05 cây Thông, dùng máy cưa xăng cầm tay cưa cắt thành lóng, mỗi lóng dài kho ng 03 mét, tổng cộng được kho ng 30 lóng, sau khi cắt xong Lương Ngọc Anh T gọi điện thoại cho Phạm Anh T, báo đã có gỗ, khi nào đến chở sẽ có Sơn ra đón. Biết là gỗ do Lương Ngọc Anh T khai thác trái phép và lợi dụng vào dịp Tết, các cơ quan chức năng nghỉ, Phạm Anh T thuê Vũ Văn D đi b c gỗ cho mình và nhờ em trai là Phạm Văn Tuyền đi phụ giúp. Đến chiều t i cùng ngày, Phạm Anh T điều khiển xe ô tô t i biển kiểm soát 49H-6156 chở Phạm Văn Tuyền, còn Vũ Văn D điều khiển xe mô tô đi sau, khi đến thôn ĐT, xã PL; Nguyễn Viết Hùng Sơn dẫn xe đi vào hiện trường nơi có gỗ. Tại đây, Phạm Anh T, Vũ Văn D và Nguyễn Viết Hoàng Sơn b c gỗ lên xe, còn Tuyền làm nhiệm vụ dùng khúc gỗ chèn bánh xe, dùng đèn pin xăn chỉ đường cho xe ô tô đi, riêng Lương Ngọc Anh T thì đứng nhìn, sau khi vận chuyển được 02 chuyến thì nghỉ.

Đến trưa ngày 22/01/2023, Lương Ngọc Anh T thuê thêm Nguyễn B o Lâm đi b c gỗ, thì Lâm đồng ý. Chiều t i cùng ngày, khi Phạm Anh T điều khiển xe ô tô t i đến thì cùng với Dũng, Sơn, Tuyền b c gỗ lên xe, còn Nguyễn B o Lâm được giao nhiệm vụ đến khu vực ngã ba thôn Đồng Tâm để c nh giới, khi nào có người đi vào thì điện thoại báo cho Lương Ngọc Anh T biết. Đến rạng sáng ngày 23/01/2023 thì vận chuyển được 03 chuyến. Đến trưa ngày 23/01/2023, thấy s gỗ mình cắt hạ đã vận chuyển gần hết nên Lương Ngọc Anh T tiếp tục lên khu vực này cắt hạ thêm 03 cây và cắt lóng dài 03 mét, chiều t i cùng ngày, Phạm Anh T điều khiển xe và cùng với Sơn, Dũng, Lâm b c gỗ lên xe, Lương Ngọc Anh T đứng quan sát, Phạm Văn Tuyền phụ việc vặt. Trong đêm, các bị cáo vận chuyển được 03 chuyến. Đến ngày 24/01/2023, Lương Ngọc Anh T tiếp tục cắt hạ thêm 02 cây gỗ Thông và cắt lóng dài 03 m. Trong đêm, các bị cáo Phạm Anh T, Sơn, Dũng, Lâm và Tuyền thực hiện việc b c và vận chuyển được 03 chuyến. Tổng cộng, từ ngày 14/01/2023 đến ngày 25/01/2023, bị cáo Lương Ngọc Anh T đã trực tiếp cắt hạ được 10 cây gỗ Thông ba lá. Các bị cáo Phạm Anh T, Phạm Văn Tuyền, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Vũ Văn D và Nguyễn B o Lâm cùng nhau vào tại hiện trường lô b kho nh 3 tiểu khu 216, xã Phi Liêng, b c vận chuyển bằng xe ô tô t i được 11 chuyến xe gỗ về cất giấu tại xưởng mộc của Phạm Anh T, tại buôn Đắk Tro, xã Krông Nô, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Tiến hành khám xét xưởng mộc của Phạm Anh T, cơ quan điều tra thu giữ 99 lóng gỗ thông ba lá, tổng kh i lượng 26,335 m3; 01 hộp gỗ xẻ, kh i lượng 0,102 m3; 01 xe ô tô t i hiệu KIA loại Frontier, biển kiểm soát 49H 6156; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6, vỏ màu hồng, màn hình c m ứng (đây là điện thoại của Phạm Anh T). Thu của Lương Ngọc Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5G, vỏ màu tím dạ quang, màn hình c m ứng; 01 xe máy cày hiệu Shibaura, màu đỏ.

Theo kết qu khám nghiệm hiện trường ngày 25/01/2023 tại lô b kho nh 3 tiểu khu 216, xã Phi Liêng, xác định: Có 10 cây gỗ Thông ba lá, nhóm IV, bị cưa hạ trái pháp luật, dấu vết cưa hạ, cắt lóng bằng máy cưa xăng cầm tay; Tổng kh i lượng lâm s n bị thiệt hại 13,255 m3 trong đó kh i lượng lâm s n còn lại hiện trường là 1,351 m3, kh i lượng lâm s n bị lấy đi là 11,904 m3; đ i tượng rừng s n xuất tự nhiên; trạng thái lá kim trung bình.

Quá trình điều tra xác định được trong 26,437 m3 gỗ nêu trên có 11,904 m3 do các bị cáo khai thác tại lô b kho nh 3 tiểu khu 216, xã Phi Liêng; 9,922 m3 của ông Bùi Đức Mạnh, sinh năm 1976, ở buôn Đắk Tro, xã Krông Nô, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, gửi tại xưởng mộc của Phạm Anh T; s gỗ còn lại không có nguồn g c. Đến nay Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, bàn giao 11,904 m3 thu giữ tại xưởng mộc của Phạm Anh T và 1,351 m3 còn tại hiện trường cho Hạt kiểm lâm Đam Rông; bàn giao 14,533 m3 cho Hạt kiểm lâm huyện Lắk xử lý theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài s n s 10 ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài s n huyện Đam Rông, thì giá trị lâm s n 13,255 m3 gỗ thông ba lá bị thiệt hại là 24.862.000 đồng, thiệt hại về môi trường là 74.586.000 đồng.

Cáo trạng s 23/CT-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng truy t các bị cáo Lương Ngọc Anh T, Phạm Anh T, Vũ Văn D, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm và Phạm Văn Tuyền về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm b kho n 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại B n án hình sự sơ thẩm s 29/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông đã xử;

Tuyên b các bị cáo Lương Ngọc Anh T (Tuấn Trang), Phạm Anh T (Tuấn Tửu), Vũ Văn D, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm, Phạm Văn Tuyền phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”

Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232, Điểm b, i, s kho n 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đ i với các bị cáo Lương Ngọc Anh T, Vũ Văn D.

Xử phạt bị cáo Lương Ngọc Anh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2023.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian bị cáo tạm giam từ ngày 27/01/2023 đến ngày 17/3/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232, Điểm b, s kho n 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Anh T (Tuấn Tửu) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2023.

Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232, Điểm b, i, s kho n 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đ i với các bị cáo Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm và Phạm Văn Tuyền.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm và Phạm Văn Tuyền mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Ngoài ra, b n án còn tuyên xử trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 28/6/2023, bị cáo Lương Ngọc Anh T kháng cáo xin gi m nhẹ.

Ngày 06/7/2023 bị cáo Vũ Văn D kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 10/7/2023, bị cáo Phạm Anh T kháng cáo xin hưởng án treo. Đến ngày 09/8/2023, bị cáo Phạm Anh T có đơn xin rút kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Ngọc Anh T, Phạm Anh T không thắc mắc, khiếu nại nội dung b n án sơ thẩm, khai nhận hành vi như b n án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời bị cáo Lương Ngọc Anh T giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. bị cáo Phạm Anh T giữ nguyên nội dung xin rút toàn bộ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Áp dụng kho n 1 Điều 348 của Bộ luật T tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo Phạm Anh T.

Áp dụng điểm a, b kho n 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn D; giữ nguyên mức hình phạt như b n án sơ thẩm. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Anh T, gi m hình phạt cho bị cáo 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành t tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật T tụng hình sự.

Bị cáo Vũ Văn D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị mệt nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo đang bị m, đau, đang ph i điều trị. Đồng thời, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ điểm c kho n 1 Điều 351 Bộ luật T tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo Vũ Văn D theo thủ tục chung.

[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như b n án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo th ng nhất với lời khai của các bị cáo khác và phù hợp với tất c các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân trong thời gian từ ngày 14/01/2023 đến ngày 25/01/2023 các bị cáo Lương Ngọc Anh T, Phạm Anh T, Vũ Văn D, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm, Phạm Văn Tuyền đã thực hiện hành vi khai thác trái phép lâm s n là gỗ thông ba lá cụ thể như sau: Phạm Anh T do thiếu gỗ làm thành phẩm để bán, đã liên lạc với Lương Ngọc Tuấn mua lại gỗ thông với giá từ 2.000.000 đến 2.500,000đ/m3, bị cáo Lương Ngọc Anh T đã dùng máy cưa xăng cầm tay lên khu vực lô b kho nh 3 tiểu khu 216 cưa hạ 10 cây thông ba lá, cắt thành lóng dài 03 mét và bán lại cho bị cáo Phạm Anh T, bị cáo Vũ Văn D được Phạm Anh T thuê b c gỗ, Phạm Văn Tuyền được Phạm Anh T nhờ đi phụ xe, giúp Tuấn b c gỗ, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm được Lương Ngọc Anh T thuê giúp cho Phạm Anh T để b c gỗ, thực hiện hành vi c nh giới, tổng kh i lượng gỗ mà các bị cáo khai thác trái phép là 13.255 m3, loại gỗ thông ba lá thuộc nhóm IV, theo kết luận định giá thì tổng giá trị về lâm s n là 24.862.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Lương Ngọc Anh T, Phạm Anh T, Vũ Văn D, Nguyễn Viết Hùng Sơn, Nguyễn B o Lâm, Phạm Văn Tuyền phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác rừng và lâm sản" theo quy định tại điểm b kho n 1 Điền 232 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Ngày 09/8/2023 bị cáo Phạm Anh T có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, tại phiên tòa, bị cáo Phạm Anh T cũng giữ nguyên việc rút kháng cáo nên căn cứ Điều 348 của Bộ luật T tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo Phạm Anh T là phù hợp.

[5] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Văn D thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn trong khai báo, ăn năn h i c i, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại x y ra, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ hình sự quy định tại điểm b, i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là thỏa đáng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết gi m nhẹ nào mới, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dũng, giữ nguyên mức hình phạt như b n án sơ thẩm.

Đ i với kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Anh T thì thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm phân hóa vai trò của bị cáo Lương Ngọc Anh T và Phạm Anh T là chưa phù hợp. Cụ thể, bị cáo Phạm Anh T là người đặt mua gỗ của bị cáo Lương Ngọc Anh T và thuê các bị cáo vận chuyển gỗ sau khi Lương Ngọc Anh T cưa gỗ xong nên bị cáo Lương Ngọc Anh T ph i chịu mức án ngang nhau với Phạm Anh T và ph i cao hơn các bị cáo khác trong vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Anh T, gi m cho bị cáo một phần hình phạt.

[6] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn D kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kho n 1 Điều 348; điểm a, b kho n 1 Điều 355, Điều 356; điểm e kho n 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo Phạm Anh T. B n án hình sự sơ thẩm s 29/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông có hiệu lực pháp luật đ i với bị cáo Phạm Anh T kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/9/2023).

2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Anh T, sửa b n án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn D, giữ nguyên hình phạt như b n án sơ thẩm đã xét xử đ i với bị cáo Dũng;

Tuyên b bị cáo Lương Ngọc Anh T (Tuấn Trang), Vũ Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”

Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232, Điểm b, i, s kho n 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 38 Bộ luật Hình sự đ i với các bị cáo Lương Ngọc Anh T, Vũ Văn D.

Xử phạt bị cáo Lương Ngọc Anh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2023.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 27/01/2023 đến ngày 17/3/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Văn D ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ