- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình s…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2026/HSST Ngày 02/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Đoàn
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: ông Dương Tuấn Duy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2026/HSST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2026/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2026/HSST-QĐ ngày 30 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Vũ Chí C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1971; CCCD số 001071021833 cấp tại Cục C1 về TTXH; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: thôn C, xã T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Chí K và bà Chử Thị H; bị cáo có vợ là Vũ Thị T và 02 con lớn nhất sinh năm 1992 và bé nhất sinh năm 1996. Tiền án: không và tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/12/2025 đến ngày 31/12/2025 hủy bỏ tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
1. Đặng Gia L, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn T, phường T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn G, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hàng ngày, C bán hàng tại chợ D thuộc thôn C, xã T. Chính thấy một số người có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức lô đề nên nảy sinh ý định bán số lô đề. Chính quy ước cách chơi và trả thưởng như sau: 01 điểm lô Chính thu 23.000 đồng, nếu thắng tỷ lệ 1 điểm lô thì người mua được 80.000 đồng; tiền đề thì khách đánh bao nhiêu C thu bấy nhiêu, C trả cho người chơi nếu thắng đề gấp 80 lần số tiền đặt cược. Việc thắng thua được xác định căn cứ vào kết quả mở thưởng sổ xố kiến thiết Miền Bắc được quay trong ngày. Người trúng số đề là người mua 02 con số trùng với 02 con số cuối cùng của giải Đặc biệt. Người trúng số lô là người mua 02 con số trùng với 02 số cuối của tất cả các giải. Việc thanh toán tiền thắng thua được thực hiện trực tiếp tại cửa hàng của C.
Khoảng 17h20 phút ngày 26/12/2025 trên đường đi làm về, Nguyễn Văn T1 dừng xe và ngồi uống nước chè ở quán của C tại chợ thôn C, xã T và gặp bạn là Đinh Gia L1. Lúc này, T1 thấy Vũ Chí C bán số lô, đề nên T1 đã hỏi và mua của C các số Lô là 29, 92 mỗi số 50 điểm tương đương với số tiền là 2.300.000 đồng; các số đề là 29, 92 mỗi số 200.000đ tương đương số tiền là 400.000 đồng; các số đề là 42,24,53,35 mỗi số 100.000đ tương đương với số tiền là 400.000 đồng. Chính ghi các con số lô, đề đã bán cho T1 ra cáp và đưa lại cho T1. Tổng số tiền T1 tham giá đánh bạc ngày 26/12/2025 là 3.100.000đ. T1 đã thanh toán bằng tiền mặt cho C rồi đi về. Đây là lần đầu tiên Tiến mua số lô, đề của C.
Sau khi T1 ra về, Đặng Gia L đã mua của C số lô như sau: 82,28,68,86,16,61 mỗi con 15 điểm; Số lô: 36,63 mỗi con 20 điểm; Số đề: 00,20,02,30,03,52,25 mỗi con 20.000đ. Tổng số tiền L mua số lô, đề của Chính ngày 26/12/2025 là 3.450.000đ. L đã trả tiền mặt cho C.
Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, khi Vũ Chí C vừa ghi số lô, số đề vào tờ giấy theo dõi thì bị công an xã T, TP Hà Nội phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Thu giữ của Vũ Chí C gồm: 01 phong bì cáp ghi số lô, số đề; Số tiền 7.700.000Đ (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng)
Thu giữ của Đặng Gia L gồm: 01 mảnh giấy KT (9x5x5)cm màu trắng có ghi nội dung: L- 363 x 20đ; Ð-292 x 20; 01 vỏ phong bì màu trắng có ghi nội dung: L-(282,686,161)/15; (00,202,303,525) 20n; 292 x 140.
Thu giữ của Nguyễn Văn T1: 01 tờ giấy trắng KT (8x10x7) cm được viết bằng mực màu xanh trong đó ghi các con số: L292 x 50đ; Đ292 x 200đ; 424 x 100đ; 535 x 100đ.
Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ số ghi trong bảng cáp ghi số lô, số đề thu giữ của Vũ Chí C, Nguyễn Gia L2 và Nguyễn Văn T1. Tại bản kết luận giám định số 1081/KL-KTHS ngày 07/01/2026 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận “Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định với chữ viết, chữ số trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra”.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H xác định Vũ Chí C chưa thu lời bất chính khi bán số lô, đề. Trong tổng số tiền 7.700.000 đồng thu giữ của C có 6.550.000 đồng là tiền bán số lô, đề, còn lại số tiền 1.150.000 đồng là tiền bán hàng của Vũ Chí C.
Tại bản Cáo trạng số 15B/CT-VKSKV5 ngày 10/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Chí C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Chí C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung kết luận điều tra của cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, cam kết không vi phạm pháp luật nữa. Bị cáo không khiếu nại về quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên bố bị cáo Vũ Chí C phạm tội Đánh bạc và xử phạt bị cáo Vũ Chí C từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.550.000 đồng là số tiền bị cáo đánh bạc mà có và trả lại bị cáo số tiền 1.150.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh của bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 26/12/2025 tại khu vực chợ D thôn C, xã T, Hà Nội, Vũ Chí C có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, đề cho Đặng Gia L và Nguyễn Văn T1 được thua bằng tiền với tổng trị giá tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.550.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, nhằm mục đích thu lời bất chính, gây mất trật tự trị an ở địa phương đồng thời cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo vừa để trừng trị bị cáo đồng thời giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.
Bị cáo Vũ Chí C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Vũ Chí C có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của địa phương về việc chấp hành tốt lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Vũ Chí C sử dụng số tiền để đánh bạc là 6.550.000 đồng và sử dụng nơi mình kinh doanh làm địa điểm đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ Điều 65 BLHS và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng với bị cáo không quá 03 năm, phạm tội lần đầu, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên bị cáo Vũ Chí C đủ điều kiện cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.550.000 đồng; Trả lại bị cáo số tiền 1.150.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[4] Các vấn đề khác:
Đối với lời khai của Vũ Chí C về việc chuyển bảng cáp số lô, số đề của người chơi cho Nguyễn Thị Thanh H1: Quá trình điều tra xác định đây là lần đầu Vũ Chí C ghi số lô số đề cho khách; bị bắt quả tang khi vừa ghi xong số lô, số đề cho khách; chưa thực hiện hành vi chuyển bảng; bản thân bị cáo không có tài liệu chứng minh có thỏa thuận chuyển bảng ghi số lô, đề của khách cho Nguyễn Thị Thanh H1 nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Thị Thanh H1 là có căn cứ.
Đối với Đinh Gia L1 và Nguyễn Văn T1: Do số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, xác minh nhân thân lai lịch của L1 và T1 không có tiền án, tiền sự nào còn thời hiệu liên quan đến hành vi đánh bạc do vậy Công an xã T, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với L1 và T1 về hành vi Đánh bạc với mức phạt tiền mỗi người là 350.000.000 đồng là phù hợp.
Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Vũ Chí C có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Chí C phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Chí C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.550.000 đồng. (Số tiền này hiện đang lưu giữ tại Kho bạc nhà nước khu vực I theo giấy nộp tiền số CT-D: 290126.0004.000056 ngày 29/01/2026).
- Trả lại cho bị cáo Vũ Chí C số tiền 1.150.000 đồng (Số tiền này hiện đang lưu giữ tại Kho bạc nhà nước khu vực I theo giấy nộp tiền số CT-D: 290126.0004.000056 ngày 29/01/2026) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS nhân dân khu vực 5 - Hà Nội; - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - Cơ quan điều tra, công an thành phố Hà Nội; - THADS thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Trại tạm giam số 02; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hương |