- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2024/HS-ST Ngày 23 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Lan Hương Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Vân và bà Nguyễn Thị Trang -Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Đ, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2024 đến nay (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Huỳnh Thị Kim H1, sinh năm 2001; Trú tại: Xóm Đ, thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt);
Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; Trú tại: Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (Có mặt). * Người chứng kiến:
Ông Văn Quang K, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 15 giờ 50 phút ngày 10/10/2024, H gọi điện thoại từ số 0979693705 đến số 0334017880 HH lưu trong danh bạ là “C đồ” hỏi mua 02 viên ma tuý kẹo và nửa chỉ ma tuý ke để sử dụng cho bản thân. C đồng ý và báo giá 200.000 đồng một viên ma tuý kẹo và 1.100.000 đồng nửa chỉ ma tuý ke, tổng là 1.500.000 đồng. H bảo C cho nợ tiền khi nào sử dụng xong ma tuý thì trả, C đồng ý và hẹn giao ma túy ở khu vực đường T, xã T, huyện T, TP Hà Nội .. Sau đó H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 29Y5 - 45671 đến đón Huỳnh Thị Kim H1 tại thôn V và rủ H1 đi uống nước. Trên đường đi, H gọi điện cho C báo sắp đến thì C bảo đã để ma túy ở cột điện cứ ra đó lấy, khi đi gần đến đoạn đường thôn V, xã T, huyện T, TP ., H dừng xe bảo H1 đợi một lúc và đi bộ đến chỗ hẹn thấy có 01 gói giấy ăn màu trắng để ở cột điện, H mở ra thấy bên trong có 01 túi nilon chứa ma tuý Ke và 01 túi nilon chứa 02 viên ma tuý kẹo, H cầm ma túy ở tay trái đi ra xe. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/10/2024, khi H đang chở H1 trên đoạn đường thôn V, xã T thì bị Tổ công tác công an kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của H có 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilong kích thước (02 x 02) cm, trong có 02 viên nén màu xám và 01 túi nilong kích thước (02 x 02) cm chứa tinh thể màu trắng.
Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilong kích thước (02 x 02)cm, trong có 02 viên nén màu xám và 01 túi nilong kích thước (02 x 02)cm chứa tinh thể màu trắng; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng có sim số 0979693705 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS: 29Y5
- 456.71. Ngày 10/10/2024, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc H tại Đ, xã T, huyện T, TP Hà Nội, không phát hiện và thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 7440/KLGĐ -KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K1 - Công an T1, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,596 gam.
- 02 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 0,851 gam.
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSTT ngày 29/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định như bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Ngọc H từ 15 - 18 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (10/10/2024).
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, mắc nghiện ma tuý nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong là ma tuý hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và bị cáo Nguyễn Ngọc H.
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI 353895100746698, bên trong lắp sim số thuê bao 0979693705.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy sai lầm, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tam gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội cùng vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/10/2024, tại đường T, xã T, huyện T, TP Hà Nội, Nguyễn Ngọc H có hành vi mua, cất giấu trái phép 01(một) túi ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,596 gam và 02 viên ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,851 gam mục đích để sử dụng sử cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hơn nữa tội phạm về ma tuý còn là nguồn gốc phát sinh nhiều tội phạm khác, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống và sức khỏe của người khác, gây bức xúc trong xã hội, do đó cần có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội cũng như răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo đã chết, mẹ già yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo là lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng lại mắc nghiện ma tuý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong chứa ma tuý được hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và bị cáo Nguyễn Ngọc H là chất ma tuý Nhà nước cấm sử dụng và lưu hành, tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI 353895100746698, bên trong lắp sim số thuê bao 0979693705 bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma tuý là phương tiện phạm tội nên tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy và đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Ngọc H ngày 10/10/2024, H khai mua của một người tên C có số điện thoại là 0334017880 tại khu vực đường thôn V, xã T, huyện T, TP .. Cơ quan điều tra đã làm rõ chủ sở hữu số thuê bao là Hà Thanh C. Tại Cơ quan điều tra C khai không quen biết H, ngày 10/10/2024 không gặp gỡ, không bán ma tuý cho Nguyễn Ngọc H. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Hà Thanh C và Nguyễn Ngọc H nhưng C, H giữ nguyên lời khai. Cơ quan điều tra tiến hành rút list điện thoại thể hiện ngày 10/10/2024 không có cuộc gọi giữa H và C. Do vậy, không đủ căn cứ để xác định Hà Thanh C là người bán ma túy cho H. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Huỳnh Thị Kim H1 đi cùng H nhưng không biết việc H mua và tàng trữ ma tuý, không thoả thuận sử dụng ma tuý cùng với H. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS: 29Y5 - 456.71. Quá trình xác minh thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Đ (anh trai của Nguyễn Ngọc H). Anh Đ không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại anh Đ là có căn cứ pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136; 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2.Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Ngọc H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (10/10/2024).
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong chứa ma tuý, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và bị cáo Nguyễn Ngọc H
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI 353895100746698, bên trong lắp sim số thuê bao 0979693705.
(Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín. Biên bản giao vật chứng, tài sản ngày 10/12/2024)
4.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Toà án trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - Sở tư pháp TP. Hà Nội; - VKSND huyện Thường Tín; - Công an huyện Thường Tín; - Chi cục THADS huyện Thường Tín; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Lan Hương |