vanban.org

Bản án 138/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-3-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Dũng - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2023/HSST
Ngày: 15-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Loan

2. Ông Nguyễn Văn Quỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại Nhà văn hóa Miền 38A, phường Lộc Vượng, thành phố N, tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế D, sinh năm 1986; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 26A/98 đường T, phường Th, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Số 28 Liên Hà 1, phường Lộc Hạ, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Xuân Thủy, sinh năm 1959 và bà Đới Thị Huệ, sinh năm 1964; gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Triệu Thị Thuật (Đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06-9-2005, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-3-2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Ông Đinh Thế Ch (Vắng mặt).

2. Anh Trần Quốc S (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 13-3-2023, tổ công tác Công an phường Ng, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 507 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Nguyễn Thế D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18AA- 018.20 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; Dũng thả từ tay trái xuống đất 01 gói ni lông màu đen bên trong là gói giấy bạc màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Dũng khai là gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thế D. Ngoài ra còn tạm giữ của Dũng 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18AA- 018.20, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung, đều đã cũ và số tiền 4.500.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 461/KL-KTHS ngày 17-3-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu thu giữ được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (hay Heroin); Khối lượng: 0,146 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thế D khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13-3-2023, D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18AA- 018.20 từ nhà đến ngõ 501 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, đi vào trong ngõ khoảng 200m dừng xe trước cửa một ngôi nhà hai tầng có cửa kéo màu xanh, bên trong có rèm cửa màu đen (không rõ số nhà) D bấm chuông cửa, hỏi mua 100.000 đồng Heroine, trong nhà có tiếng phụ nữ trả lời đồng ý bán, D đưa 100.000 đồng qua lỗ cửa mua được 01 gói Heroine (không rõ người bán là ai). D cầm gói Heroine rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18AA- 018.20 là tài sản của bà Đới Thị H, bà H không biết D mượn xe máy đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bà H. Số tiền 4.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung là tài sản của Dũng không dùng vào việc mua bán ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp với Công an phường L, thành phố N tiến hành xác minh ngôi nhà nơi Dũng mua ma túy. Kết quả xác minh không có ngôi nhà nào có vị trí và đặc điểm như lời khai của Dũng.

Bản cáo trạng số 138/CT-VKS-TPNĐ ngày 22-5-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Thế D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế D khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung và số tiền 4.500.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Thế D không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thế D tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 07 giờ ngày 13-3-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 507 đường Đ phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Thế D đã tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,146 gam Heroine, vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nguyễn Thế D đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội, bố bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, đã một lần bị Công an thành phố N xử phạt hành chính. Lần phạm tội này bị cáo đã tàng trữ 0,146 gam Heroine nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian. Nhưng cũng cần xem xét từ năm 2005 đến nay bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật, luôn chấp hành chính sách và pháp luật của Nhà nước, bị cáo tỏ ra ăn lăn, hối hận đối với hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ điều kiện răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung, nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Thế D là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thế D để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành sẽ tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung và số tiền 4.500.000 đồng là tài sản của bị cáo không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18AA- 018.20 là tài sản của bà Đới Thị H (mẹ đẻ D). Bà H không biết D mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho bà H là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-3-2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 461/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung và số tiền 4.500.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thế D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thế D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ