- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình T tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2023/HSST Ngày: 19/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đông và bà Nguyễn Thị Lâm
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXXST – HS ngày 5/6/2023 đối với bị cáo:
LÊ ĐÌNH TR; sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn Liên Cơ, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông: Lê Đình S, sinh năm 1953; Con bà: Đỗ Thị Th; sinh năm: 1959; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Có 1 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 211 ngày 10/3/2023 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp: Tiền án, tiền sự: Không.
BÞ cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 3/03/2023, tạm giam từ ngày 10/03/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9h20’ ngày 03/3/2023, Tổ công tác Công an phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội làm nhiêm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực trước cửa nhà số 711 Ngô Gia Tự, Đức Giang, Long Biên, Hà Nội phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của nam thanh niên này có 01gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, nam thanh niên tự khai nhận tên Lê Đình Tr , 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine Tr vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa Tr về trụ sở làm rõ.
Tang vật thu giữ: 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 1296 ngày 10/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,190gam.
Tại cơ quan điều tra, Lê Đình Tr khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, không có nơi ở cố định. Khoảng 8h ngày 03/3/2023, Tr đi xe buýt một mình từ Chương Mĩ ( Là nơi Tr đang làm thợ ốp lát đá) đến khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Minh mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Tr gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết đứng ở ven đường 01 gói ma túy Heroin hết 100.000đ. Mua được ma túy, Tr cất vào túi quần phía trước bên trái sau đó đi bộ ra ngoài đường lớn thì Tr gặp một nam thanh niên đi xe tải màu trắng (Tr không nhớ biển kiểm soát của xe), người này thuê Tr làm bốc vác, cụ thể là bốc vải cho anh ta. Tr đồng ý và lên xe. Người này chở Tr đi đến đoạn trước cửa nhà số 711 Ngô Gia Tự, Đức Giang thì dừng xe và bảo Tr xuống xe đợi anh ta đi đổi xe khác để bốc hàng. Khi Tr đang đứng đợi thì bị Tổ công tác công an phường Đức Giang kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Bản Cáo trạng số 130/CT-VKSLB ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã trúy tố Lê Đình Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã xác định: Hành vi phạm tội của của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Tr mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,150 gam ma túy Heroin (khối lượng ban đầu là 0,190 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,040 gam).
Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9h50 phút ngày 3/3/2023, tại khu vực trước cửa nhà 711 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội, Lê Đình Tr có hành vi tàng trữ trái phép 0,190 gam ma túy Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Lưu Thế Vinh về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù và miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,150 gam ma túy Heroin (khối lượng ban đầu là 0,190 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,040 gam).
Đề nghị xử lý vật chứng của VKSND quận Long Biên không phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tr và người đàn ông lái xe tải thuê Tr làm bốc vác Tr khai không biết nhân thân lai lịch do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên không đủ căn cứ để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lí sau là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Đình Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Đình Tr 15 (Mười lăm tháng) tù . Thời hạn tù tính từ ngày 3/3/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,150 gam ma túy Heroin (khối lượng ban đầu là 0,190 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,040 gam).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Chi cục THADS quận Long Biên; - Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Văn Ngọc |