- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 138/2023/HS-ST Ngày 25-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Nguyễn Thị Tiện
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lường Văn L, sinh năm 1984, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn V và bà Lò Thị T (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Hoàng Thị S (Đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tù tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2009 (đã được xóa án tích). Ngày 13/7/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tù tháng về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2011 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2023 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, tổ công tác Công an xã M, huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Lường Văn L (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Lường Văn L đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 02 gói nilon màu trắng. Trong đó 01 gói nilon màu trắng đựng 03 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY và 01 gói nilon màu trắng bên trong có 02 gói nilon màu hồng đều đựng cục chất bột màu trắng. Lường Văn L khai 03 viên nén màu hồng là Methamphetamine, cục chất bột màu trắng là Heroine, cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Lường Văn L về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.
Ngày 22/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Lường Văn L, kết quả: Cục chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thứ nhất có khối lượng 0,31 gam, lấy toàn bộ 0,31 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “L1”; Cục chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thứ hai có khối lượng 0,29 gam, lấy toàn bộ 0,29 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “L2”; 03 viên nén màu hồng có khối lượng 0,27 gam, lấy toàn bộ 0,27 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “L3”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 643 ngày 23/3/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L1, L2 là ma túy, loại chất Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là L1=0,31 gam, L2=0,29 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu L3 là ma túy, loại chất Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,60 gam loại Heroine và 0,27 gam loại Methamphetamine;
Quá trình điều tra Lường Văn L khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 6 giờ 30 ngày 22/3/2023, Lâm đi đến bản Ô, xã C mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Trên đường đi đến bản Ông L, L gặp và hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 02 gói nilon màu trắng, trong đó 01 gói nilon màu trắng đựng 03 viên Methamphetamine và 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 02 gói nilon màu hồng đều đựng Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu các gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về, trên đường mang ma túy về thì bị tổ công tác Công an xã M, huyện M phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Bản cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Lường Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Lường Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Lường Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lường Văn L từ 30 tháng đến 36 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ: Lường Văn L, bắt ngày 22/3/2023; 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn L - sn: 1984
- HKTT: bản B, L, M, Sơn La, kq: Dương tính.
3. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lường Văn L thừa nhận: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, Lường Văn L đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,60 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine thu giữ của Lường Văn L là 0,60 gam + 0,27 gam = 0,87 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lường Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Ngày 21/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tù tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2009, thi hành xong án phí HSST và tiền phạt ngày 03/3/2008 (đã được xóa án tích). Ngày 13/7/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tù tháng về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2011, thi hành xong án phí HSST ngày 13/9/2010 (đã được xóa án tích). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ: Lường Văn L, bắt ngày 22/3/2023; 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn L - sn: 1984 - HKTT: bản B, L, M, Sơn La, kq: Dương tính. Không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo thuộc hộ nghèo do đó cần miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lường Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/3/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ: Lường Văn L, bắt ngày 22/3/2023; 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn L - sn: 1984
- HKTT: bản B, L, M, Sơn La, kq: Dương tính.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2023 giữa Công an huyện Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/5/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - THAHS; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện Mộc Châu; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Kiên |