vanban.org

Bản án 138/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Gi.

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L được ly hôn với nhau. Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Gi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Gi- Huỳnh Văn L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Gi.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/12/2023.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 340/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 8 năm 2023, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Gi – sinh năm 1989, có mặt.

Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L – sinh năm 1983, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2023, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Gi như sau:

Bà và ông Huỳnh Văn L tổ chức đám cưới vào năm 2008, hôn nhân do mai mối. Đến năm 2012, thì vợ chồng bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao vào ngày 06/6/2012.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L thường xuyên nhậu nhẹt, ghen tuông vô cớ, chửi mắng bà nên vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên lời qua tiếng lại có lần ông L đánh bà. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm yêu thương gì đối với ông Huỳnh Văn L nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Văn L.

Thời gian chung sống vợ chồng bà có 02 người con chung tên Huỳnh Kim Th

- sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015, hiện ông L đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Huỳnh Văn L.

Về con chung: Bà xin nuôi 02 người con chung tên Huỳnh Kim Th - sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015. Bà không yêu cầu ông Huỳnh Văn L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng bà không có nợ chung.

Bị đơn ông Huỳnh Văn L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Huỳnh Văn L không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Gi cương quyết ly hôn với ông Huỳnh Văn L và xin nuôi hai người con chung tên Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015. Bà không yêu cầu ông Huỳnh Văn L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện, tuy nhiên vụ án bị vi phạm về thời hạn; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Nguyễn Ngọc Gi được ly hôn với ông Huỳnh Văn L. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao hai cháu Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Gi nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Văn L là bị đơn trong vụ án, ông Huỳnh Văn L có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Huỳnh Văn L vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên và có mặt ở địa phương. Tòa án đã tống đạt trực tiếp và thực hiện các thủ tục niêm yết công khai các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Huỳnh Văn L vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn L.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L cưới nhau vào năm 2008, hôn nhân do mai mối và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77, ngày 06/6/2012, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L là hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có hai người con chung nhưng trong quá trình sống chung vợ chồng bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Nguyễn Ngọc Gi cho rằng do ông Huỳnh Văn L thường xuyên nhậu nhẹt, ghen tuông vô cớ, chửi mắng bà nên vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên lời qua tiếng lại có lần ông L đánh bà. Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Huỳnh Văn L không liên lạc với nhau nên không tự hàn gắn được. Ngày 03/10/2023 và ngày 13/11/2023, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Huỳnh Văn L vắng mặt và bà Nguyễn Ngọc Gi cương quyết ly hôn với ông Huỳnh Văn L. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là hơn 03 năm. Trong thời gian này, ông Huỳnh Văn L và bà Nguyễn Ngọc Gi không tìm được tiếng nói chung, bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L không liên lạc với nhau cho thấy ông bà không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Ngọc Gi cương quyết xin ly hôn với ông Huỳnh Văn L và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Huỳnh Văn L, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Gi.

Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L có 02 người con chung tên tên Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015 hiện nay ông Huỳnh Văn L đang nuôi dưỡng.

Ông Huỳnh Văn L không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Nguyễn Ngọc Gi xin nuôi cả 02 người con chung tên Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015, cháu Thư và cháu Th cùng có nguyện vọng sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Gi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc Gi không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc Gi và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Ngọc Gi phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0000687, ngày 15/8/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà Nguyễn Ngọc Gi đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Gi.

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Ngọc Gi và ông Huỳnh Văn L được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Kim Th – sinh ngày 27/10/2012 và Huỳnh Khánh Th – sinh ngày 01/02/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Gi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Huỳnh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng ông Huỳnh Văn L được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Các đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Gi phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0000687, ngày 15/8/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ