vanban.org

Bản án 138/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn T (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H ngày 21/3/2006).

Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị Bù… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Bùi Thi H và anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn T (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H ngày 21/3/2006).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 138/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 08/8/2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc;

2. Ông Đoàn Nam Lê Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 176A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022, giữa các đƣơng sự.

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1983; thƣờng trú: Thôn Thủy T, xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H; tạm trú: 12/71 khu phố B Đ, phƣờng An B, thành phố D, tỉnh B. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; thƣờng trú: Thôn Thủy T, xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H; tạm trú: 12/71 khu phố B Đ 4, phƣờng An B, thành phố D, tỉnh B. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/6/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T sau thời gian tự nguyện tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01 ngày 21/3/2006.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không có sự đồng cảm, mỗi ngƣời đều có cuộc sống riêng nên không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù chị H đã cố gắng hòa giải và nỗ lực hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng không có kết quả. Nay chị Hải xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn T, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn.

+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Bùi Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 21 tháng 7 năm 2022 bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Bùi Thị H sau thời gian quen nhau khoảng hơn 01 năm thì tự nguyện về chung sống với nhau vào 2005, có tổ chức lễ cƣới và đến năm 2006 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H. Việc kết hôn đƣợc hai bên gia đình đồng ý.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T phát hiện chị H nhắn tin cho ngƣời đàn ông khác rất tình cảm. Khi phát hiện sự việc, anh T đã hỏi chị H và chị H thừa nhận. Kể từ đó tình cảm vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, chị H tự ý dọn ra ngoài sống riêng. Mặc dù anh T đã vì các con còn nhỏ mà tha thứ cho sự không chung thủy của chị H nhƣng chị H lại không xem đó là cơ hội sửa đổi mà lại làm đơn xin ly hôn. Khoảng 02 tuần trở lại đây chị H đã dọn ra ngoài sống riêng, chặn mọi thông tin liên lạc, vợ chồng tạm thời sống ly thân. Nay anh T xác định vẫn còn tình cảm với chị H, bản thân không muốn ly hôn nhƣng nếu chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị H thì anh T tùy ý các con muốn sống với ai cũng đƣợc, nếu các con muốn sống với anh T thì anh không yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Nếu các con muốn sống với chị H thì anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố D tại Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng An B, thành phố D thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng An B không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T. Đồng thời, Hội không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó, không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn nhƣ thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng quy định.

Về quan hệ hôn nhân, chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng, chị H và anh T đều xác nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, đã cố gắng hòa giải nhƣng không thành nên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng, chị H có yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, chị H có yêu cầu đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012. Tại bản tự khai cháu H1 và cháu H2 cũng có nguyện vọng đƣợc ở chung với mẹ. Anh T để tự các con quyết định lựa chọn muốn chung sống với ai nên yêu cầu của chị H về vấn đề nuôi dƣỡng con chung là có căn cứ. Đối với vấn đề cấp dƣỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đối với tài sản chung và nợ chung đƣơng sự không tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn chị Bùi Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H ngày 21/3/2006 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, quyển số 01) nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị H xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn nên không thể tiếp tục chung sống đƣợc với nhau và yêu cầu đƣợc ly hôn. Anh Nguyễn Văn T cũng thừa nhận quan hệ vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn vì nghi ngờ chị H có quan hệ với ngƣời đàn ông khác, hiện chị H đã dọn ra ngoài sống riêng và chặn mọi thông tin liên lạc. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc và để đạt đƣợc mục đích đó thì vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Anh T thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và hiện đang tạm thời sống ly thân. Bản thân anh T không muốn ly hôn nhƣng nếu chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị H và anh T là trầm trọng, chị H yêu cầu đƣợc ly hôn là phù hợp với quy định của Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012. Khi ly hôn, chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung. Anh T nêu ý kiến tùy các con quyết định. Tại bản tự khai ngày 19/7/2022, cháu H1 và cháu H2 đều có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ. Thực tế kể từ thời điểm chị H và anh T sống ly thân thì hai cháu H1 và H2 đang do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng và các cháu vẫn đƣợc chăm sóc, phát triển tốt. Do đó, để không làm ảnh hƣởng đến sinh hoạt bình thƣờng và việc học tập của các cháu cần giao cháu H1 và cháu H2 cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo cho sự phát triển bình thƣờng của con về mọi mặt và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Quá trình tố tụng, chị Bùi Thị H xác định chỉ yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự định đoạt của đƣơng sự nên ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố D, tỉnh B.

Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn T (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Bạch H, huyện Phú X, thành phố H ngày 21/3/2006).

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Quang H1, sinh ngày 10/10/2006 và Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 12/11/2012 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai đƣợc quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004095 ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh B.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ