vanban.org

Bản án 138/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Hoài T đối với ông Huỳnh Thanh Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh Đ. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Nam Phương, sinh ngày 29/01/2016 cho bà Nguyễn Ngọc Hoài T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Thanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Hoài T và bị đơn ông Huỳnh Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Hoài T đối với ông Huỳnh Thanh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 30/9/2022.
V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lại Thiện Phong

Ông Danh On

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 227/2022/TLST–HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T, sinh ngày 07/01/1991. Địa chỉ: Số 356/30E đường X, Phường 25, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh,(vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 10/01/1988. Địa chỉ: Ấp B, xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 7 năm 2022 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà Nguyễn Ngọc Hoài T là nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, bà T và ông Huỳnh Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 10/012015 được UBND Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên từ tháng 01 năm 2021 đến nay vợ chồng không ở chung một nhà. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông Đ; Về quan hệ con chung: Bà T xác định có 01 con chung là cháu Huỳnh Ngọc Nam Phương, sinh ngày 29/01/2016, hiện cháu đang ở cùng bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Huỳnh Thanh Đ: Tòa án có tiến hành giao Thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với ông Đ nhưng ông Đ không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao Thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với ông Đ được. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật cho ông Đ. Chính quyền địa phươg xác định: Ông Đ vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu ông Đ có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Ngọc Hoài T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh Đ. Về con chung giao cháu Huỳnh Ngọc Nam Phương, sinh ngày 29/01/2016 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh Đ và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Huỳnh Thanh Đ có nơi đăng ký thường trú tại ấp B, xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Hoài T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, bị đơn Huỳnh Thanh Đ vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Hoài T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T và ông Huỳnh Thanh Đ, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và được Ủy ban nhân dân Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/01/2015nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, bà T và ông Đ có phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên cả hai không còn chung sống một nhà từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay, Toà án không thể làm việc được với ông Đ cũng như hoà giải được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà T được ly hôn với ông Đ.

Về quan hệ con chung: Bà T xác định có một con chung là cháu Huỳnh Ngọc Nam Phương, sinh ngày 29/01/2016, hiện cháu đang ở cùng bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Đ cấo dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Phương hiện đang sống ổn định với bà T, cháu còn nhỏ tuổi nên cần giao cháu cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Hoài T đối với ông Huỳnh Thanh Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Nam Phương, sinh ngày 29/01/2016 cho bà Nguyễn Ngọc Hoài T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Thanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006437 ngày 18/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.

Bà Nguyễn Ngọc Hoài T và ông Huỳnh Thanh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ