- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng xây dựng"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2020/KDTM-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 42 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP Về hợp đồng trong hoạt động xây d…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2021/KDTM-PT Ngày: 05/7/2021 V/v:Tranh chấp hợp đồng xây dựng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các thẩm phán:
Bà Lê Thúy Linh
Bà Ngô Tuyết Băng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Lừng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30/6 và 05/7 /2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 51/2021/KDTM-PT ngày 05/3/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2020/KDTM-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 298/2021/QĐXXPT-KDTM ngày 24/5/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 369/2021/QĐ-HPT ngày 10/6/2021, giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4. Địa chỉ: Số 243A đường Đê La Thành, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Hà - Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh Đức - Sinh 1997
Địa chỉ: Số 37, ngách 20, ngõ 214, đường Nguyễn Xiển, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
2. Bị đơn: Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng. Địa chỉ: Số 70 phố An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lã Tuấn Hưng - Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh Tài - Phó Tổng Giám đốc công ty
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ban Điều hành Dự án Xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 - Tổng Công ty Sông Hồng. Địa chỉ: Thôn Hải Phong, xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ hoạt động: Số 70 phố An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Minh - Giám đốc.
(Nguyên đơn, bị đơn có mặt; Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng (Gọi tắt là Tổng Sông Hồng) là nhà thầu phụ của Dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện than Vũng Áng 1 do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) là chủ đầu tư.
Ngày 01/4/2010, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4 (Gọi tắt là Công ty số 4) và Ban điều hành dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 - Tổng Công ty Sông Hồng (Gọi tắt là Ban điều hành Sông Hồng) ký kết Hợp đồng thi công xây lắp số 06/HĐXD-BĐHVA -2010. Nội dung hợp đồng thể hiện việc Ban điều hành dự án thuê Công ty số 4 thi công khoan cọc nhồi thuộc Dự án Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng. Cụ thể là khoan cọc nhồi vào đất, vào đá phong hóa và đá gộc (có quy định chi tiết kỹ thuật về đường kính cọc, chiều sâu cọc và các công việc cụ thể). Số lượng là 150 cọc; Giá trị hợp đồng tạm tính là 10.050.000.000đ. Ngoài ra hợp đồng còn quy định đầy đủ các điều khoản thanh toán, tạm ứng, thời gian, tiến độ thực hiện công việc và thủ tục nghiệm thu, bàn giao, bảo hành công trình xây dựng, quyền và nghĩa vụ của các bên.
Ngày 01/6/2010 các bên tiếp tục ký kết Phụ lục hợp đồng số 01, nội dung các bên thỏa thuận điều chỉnh về điều khoản thanh toán hợp đồng.
Ngày 29/10/2010 các bên tiếp tục ký kết Phụ lục hợp đồng số 02, thống nhất nâng số lượng cọc thi công lên thành 400 cọc và giá trị thi công thành 42.367.000.000đ. Ngoài ra Phụ lục còn quy định về phụ phí trích nộp Tổng công ty. Theo đó, Ban điều hành dự án sẽ trích phụ phí của Công ty số 4 là 1,5% doanh thu.
Thực hiện hợp đồng, Công ty số 4 đã thi công các công việc liên quan đến hạng mục khoan cọc nhồi có trị giá khối lượng hoàn thành theo Bản quyết toán hợp đồng được ký kết giữa Ban điều hành Sông Hồng và Công ty số 4 là 42.027.359.611đ. Tổng Sông Hồng đã thanh toán cho Công ty số 4 (qua các hình thức chuyển khoản, bù trừ chi phí vật tư, nộp thuế hộ, bù trừ công nợ, báo nợ tiền ngân hàng…) tính đến ngày 17/01/2012 tổng cộng là 23 lần = 39.694.352.776đ. Tổng Sông Hồng còn nợ 2.333.006.535đ.
Công ty số 4 khởi kiện yêu cầu Tổng Sông Hồng không phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi chậm trả trên khoản nợ gốc với mức lãi suất 13,5%/năm tính từ ngày 18/01/2012 đến ngày 30/6/2020 là 2.663.750.1600 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 4.996.756.695 đồng .
Bị đơn Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng thừa nhận việc ký kết và thực hiện hợp đồng số 06/HĐXD-BĐHVA giữa Ban điều hành Sông Hồng và Công ty số 4 đúng như Công ty số 4 trình bày. Sau khi thực hiện hợp đồng, các bên đã ký kết biên bản nghiệm thu, Công ty số 4 cũng đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng. Đến ngày 31/12/2016, hai bên đã ký Biên bản đối chiếu công nợ xác nhận số nợ gốc tại thời điểm đối chiếu là 2.33.006.535 đồng. Tổng Sông Hồng đề nghị được miễn tiền lãi vì trong Hợp đồng không thỏa thuận tính lãi. Đối với số nợ gốc, Tổng Sông Hồng đề nghị Công ty số 4 có phương án hòa giải và chốt số tiền nợ gốc để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Ban điều hành Sông Hồng đăng ký hoạt động tại địa chỉ: xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh nhưng hiện đã chuyển về hoạt động tại số 70, đường An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội và là đơn vị phụ thuộc Tổng Sông Hồng, không có tư cách pháp nhân. Ban điều hành Sông Hồng có ông Phùng Minh là Giám đốc Ban, có quyền đại diện Ban và Tổng Sông Hồng ký kết một số văn bản.
Ban điều hành dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 - Tổng công Sông Hồng (Ban điều hành Sông Hồng) trình bày:
Ông Phùng Minh được Tổng Giám đốc ký Quyết định bổ nhiệm làm giám đốc Ban điều hành dự án lần đầu vào ngày 24/8/2009, tiếp đến bổ nhiệm ngày 13/6/2011 và quyết định cuối cùng vào ngày 06/8/2013. Ban điều hành đang hoạt động tại địa chỉ: số 70 đường An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Về việc ký Hợp đồng thi công xây lắp số 06/HĐXD-BĐHVA -2010 ngày 01/4/2010 và các phụ lục hợp đồng do người đại diện theo pháp luật của hai bên ký kết, ông Minh chỉ là người tiếp quản công việc về sau.
Quá trình thực hiện hợp đồng, nghiệm thu, các bên không xảy ra tranh chấp. Tổng Công ty Sông Hồng đã thanh toán 39.694.352.776 đồng, còn nợ 2.333.006.535 đồng. Số tiền công nợ đã được hai bên chốt bằng văn bản.
Đối với các văn bản đã ký kết với Công ty số 4, ông Minh khẳng định đã ký theo đúng quy định và các nội quy, quy chế của Tổng Công ty Sông Hồng, Ban điều hành ban hành. Đối với số tiền nợ gốc và lãi do Công ty số 4 yêu cầu thanh toán, Tổng Sông Hồng phải có nghĩa vụ thanh toán do Ban điều hành Sông Hồng chỉ là đơn vị phụ thuộc.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2020/KDTM-ST ngày 10/9/2020 của TAND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử đã quyết định: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đối với Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng về việc tranh chấp Hợp đồng thi công xây lắp số 06/HĐXD-BĐHVA-2010 ngày 01/4/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01 ngày 01/6/2010, Phụ lục Hợp đồng số 02 ngày 29/10/2010. 2. Buộc Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng phải thanh toán cho Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 tổng số tiền 4.186.722.799 đồng, trong đó:
- Số tiền nợ gốc là 2.333.006.535 đồng
- Số tiền nợ lãi tạm tính từ ngày 18/01/2012 đến ngày 30/6/2020 là 1.853.716.264 đồng… 3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ lãi. Số tiền nợ lãi không được chấp nhận là 810.033.896 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận ở giai đoạn thi hành án, nghĩa vụ phải chịu án phí của các đương sự.
Không đồng ý với Quyết định của bản án sơ thẩm:
Ngày 20/10/2020 Bị đơn là Tổng Sông Hồng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ giải quyết vụ án. Lý do: Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định Tổng Sông Hồng là bị đơn, Ban điều hành Sông Hồng mới là bị đơn. Bản án sơ thẩm buộc Tổng Sông Hồng phải thanh toán cho Công ty số 4 là 4.186.722.799 đồng gồm nợ gốc, nợ lãi và khoản tiền nợ lãi quá hạn theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng BIDV không đúng bởi theo Hợp đồng số 06 không có căn cứ xác định các mốc thanh toán đã được Ban điều hành thống nhất với Tổng thầu - Tổng công ty lắp máy Việt Nam. Việc thanh toán giữa Ban điều hành và Công ty số 4 là tạm thanh toán, chưa đủ điều kiện để thanh toán quyết theo đúng thỏa thuận hợp đồng. Vì vậy nợ gốc chưa đến hạn phải thanh toán. Bản quyết toán giá trị cọc khoan nhồi ngày 15/12/2011 giữa Ban điều hành Sông Hồng và Công ty số 4 chỉ xác định giá trị quyết toán giữa hai bên, không phải căn cứ xác định thời điểm thanh toán.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Đơn kháng cáo của đương sự làm và nộp đúng thời hạn nên kháng cáo là hợp lệ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 68, 69, 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi ký kết Hợp đồng số 06, Công ty số 4 đã thực hiện và hoàn thành khối lượng công việc theo Hợp đồng. Tổng Sông Hồng đã thanh toán 39.694.353.076đ, còn nợ lãi 2.333.006.535đ. Công ty số 4 đòi Tổng Sông Hồng trả số nợ gốc và tiền lãi chậm thanh toán. Do Ban điều hành Sông Hồng được Tổng Sông Hồng lập ra và là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng Sông Hồng nên Tổng Sông Hồng phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền gốc và lãi chậm trả của Hợp đồng nêu trên. Đề xuất: Bác yêu cầu kháng cáo của Bị đơn và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng (Tổng Sông Hồng) làm và nộp nên kháng cáo được chấp nhận.
Xét về nội dung kháng cáo:
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thì “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” và “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”
Theo Đơn khởi kiện lập ngày 18/01/2019 của Công ty số 4 gửi Tòa án nhân dân quận Tây Hồ đã ghi rõ Người khởi kiện “Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4”; Người bị kiện “Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Tổng Sông Hồng là bị đơn trong vụ án là có căn cứ và đúng quy định.
Tại Tòa án sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Bị đơn đều trình bày “Ban điều hành Sông Hồng” là pháp nhân hạch toán phụ thuộc của Tổng Sông Hồng. Lời trình bày này phù hợp với các tài liệu, hồ sơ pháp lý mà Tổng Sông Hồng đã nộp cho Tòa án. Theo đó thì Tổng Sông Hồng lập ra Ban điều hành Sông Hồng để quản lý và thực hiện Hợp đồng thi công xây lắp số 06/HĐXD-BĐHVA -2010 là một phần việc thi công của Dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) là chủ đầu tư; Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (Là Tổng thầu) và Tổng Sông Hồng (Nhà thầu phụ). Do Ban điều hành Sông Hồng là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng Sông Hồng nên Công ty số 4 khởi kiện Tổng Sông Hồng phải thanh toán số nợ gốc 2.333.006.535đ còn lại của Hợp đồng số 06 là đúng, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi khoản nợ gốc của Công ty số 4 là có căn cứ.
Đối với khoản tiền lãi chậm trả mà Công ty số 4 yêu cầu Tổng Sông Hồng phải trả tính từ ngày 18/01/2012 đến ngày 30/6/2020, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm d, khoản 2 Điều 42 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 để chấp nhận 1 phần yêu cầu tiền lãi chậm trả là phù hợp với quy định. Vì kháng cáo của Tổng Sông Hồng không được chấp nhận nên Tổng Sông Hồng phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX. Từ những nhận định trên Áp dụng khoản 1 Điều 308 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
QUYẾT ĐỊNH
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2020/KDTM-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đối với Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng về việc tranh chấp Hợp đồng xây dựng. Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng phải thanh toán cho Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 là 2.333.006.535đ (Nợ gốc) cùng 1.853.716.264đ (Lãi chậm trả từ ngày 18/01/2012 đến ngày 30/6/2020). Tổng cộng 4.186.722.799đ (Bốn tỷ, một trăm tám sáu triệu, bảy trăm hai hai nghìn, bảy trăm chín chín đồng).
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với khoản tiền chưa thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4 về việc yêu cầu Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng thanh toán số tiền nợ lãi 810.033.896 đồng. 3. Về án phí: Tổng Công ty Cổ phần Sông Hồng phải chịu 112.186.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm,Tổng Công ty đã nộp tạm ứng 2.000.000đ theo biên lai số 0317 ngày 24/11/2010 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ; Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4 phải chịu 36.301.000đ tiền án phí đối với phần yêu cầu đòi tiền lãi chậm trả không được chấp nhận. Công ty đã nộp tạm ứng án phí 56.392.000đ theo biên lai số 03833 ngày 20/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ nay được hoàn trả 20.091.000đ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSNDTP Hà Nội; - TAND quận Tây Hồ; - Chi cục THA quận Tây Hồ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh |