vanban.org

Bản án 138/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Bích H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 8,59 (Tám phẩy năm chín) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Bích Hồng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Bích H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L, TỈNH LÀO
CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:138/2021/HS-ST
Ngày: 30/12/ 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hoàng Văn Ngân

Bà Vũ Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thế Trung – Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố L, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm vụ án thụ lý số: 124/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128 /2021/QĐXXST-HS ngày10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Bích H (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nữ

Sinh ngày 07/9/1981, tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 26, phương Cốc Lếu, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Văn hóa: 12/12;

Con ông Đỗ Minh Bốn và bà Hoàng Thị Ngân

Chồng: Đỗ Việt Bắc, sinh năm 1970. Trú tại tổ 34, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có 03 con, lớn nhất Phạm Quỳnh Chi - sinh năm 2008, Con thứ hai là Phạm Tuấn Hưng – Sinh năm 2012; Con thứ ba Đỗ Khánh Chi – Sinh năm 2019.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân bị cáo: Bị xử phạt hành chính theo Quyết định số 120 ngày 22/07/2008 về hành vi đánh bạc, đã được xóa tiền sự.

Bị cáo Đỗ Bích H bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2021 đến ngày 21/9/2021, hiện đang được áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú tại phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.(Có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 40 phút ngày 15/9/2021, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Hoàng Liên, tổ 26, phường C, thành phố L, phát hiện và bắt quả tang đối với Đỗ Bích H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đỗ Bích H đang mặc 01 gói giấy (loại giấy ăn) bên trong là 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa 05 viên nén hình trụ màu hồng, Đỗ Bích H khai nhận là ma túy Hồng phiến tàng trữ để cho chồng là Đỗ Việt Bắc sử dụng, ngoài ra còn tạm giữ của Đỗ Bích H 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE màu đen, số IMEI 353844083603179, lắp sim 0967971975 đã qua sử dụng; 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO màu đỏ, số khung LR9YGEK1KLAF03249, số máy QS60v1000w200204350336, không có biển kiểm soát; tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Bích H tại số nhà 115, đường Hoàng Văn Thụ, tổ 26, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Phát hiện thu giữ tại giá treo tivi trên tường trong phòng ngủ của Đỗ Bích H 01 gói giấy (loại giấy ăn) bên trong có 02 gói nilon có mép miết, 01 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, 01 túi chứa 02 hai viên nén màu hồng, thu giữ tại túi quần treo trong tủ quần só trong phòng ngủ 01 hộp nhựa bên trong có 06 túi nilon có mép miết bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; thu giữ tại túi áo khoác treo trong tủ quần áo trong phòng ngủ của Đỗ Bích H 02 túi nilon: 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu tím than bên trong có 01 túi nilon có mép miết bên trong chứa các viên nén hình trụ màu hồng Đỗ Bích H khai nhận là ma túy mua về cất dấu để cho chồng sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của Đỗ Bích H 01 cân điện tử; 01 chứng minh nhân dân số 060643894 mang tên Đỗ Bích Hồng.

Về nguồn gốc số ma túy Đỗ Bích H khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2021, Đỗ Bích H đi chơi trò chơi điện tử bắn cá ở khu vực Cầu Sập, thuộc tổ 03, phường Duyên Hải, thành phố L, gặp một người nam giới không quen biết giới thiệu tên là Huy qua nói chuyện biết Huy đang bán ma túy nên Đỗ Bích H đã đặt vấn đề hỏi mua ma túy đá và ma túy hồng phiến của Huy, Huy đồng ý và hẹn 14 giờ gặp nhau ở đường Sơn Đạo, phường C, thành phố L để giao dịch mua bán. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày Đỗ Bích H mượn xe điện của chị Trần Thị Thúy Vân (là hàng xóm) đi đến đường Sơn Đạo gặp Huy để mua ma túy. Khi đến nơi Đỗ Bích H thấy Huy đang ngồi một mình trên xe mô tô màu trắng ở ven đường. Đỗ Bích H đến hỏi Huy “có hồng với đá không ?” Huy trả lời “có chị lấy như nào?” Đỗ Bích H trả lời “hồng 3 đá 2” rồi đưa cho Huy 5.000.000 (năm triệu) đồng, Huy nhận tiền rồi lái xe đi đâu đó khoảng 15 phút quay lại đưa cho Đỗ Bích H 01 bọc nilon màu đen bên trong có ma túy đá và hồng phiến. Đỗ Bích H nhận bọc ma túy mở ra kiểm tra xong gói lại cho vào cốp xe rồi đi về nhà. Khi về đến nhà, Đỗ Bích H cất số ma túy vừa mua được vào trong tủ quần áo trong phòng ngủ rồi đi mua túi nilon loại có mép miết về để chia nhỏ số ma túy vừa mua được để cất giấu cho chồng sử dụng dần. Mua được túi nilon Đỗ Bích H vào trong phòng ngủ lấy bọc ma túy vừa mua được ra chia nhỏ vào các túi nilon rồi cất vào trong một lọ nhựa có nắp cất giấu trong tủ quần áo để đưa cho chồng sử dụng dần. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/9/2021, Đỗ Bích H lấy 01 túi nilon chứa 05 viên hồng phiến bọc bên ngoài bằng loại giấy ăn cho vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi mượn xe máy điện của chị Trần Thị Thúy Vân hàng xóm đi đón con. Khi đang đi trên đường Hoàng Liên, thuộc tổ 26, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Kết luận giám định số 260/GĐMT ngày 20/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 4,32 (bốn phẩy ba mươi hai) gam các hạt tinh thể, màu trắng và 5,8 gam các viên nén màu hồng thu giữ của Đỗ Bích H ngày 15/9/2021 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai gửi đến giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.

Cáo trạng số 121/CT-VKSTPLC ngày 17 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Đỗ Bích H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Bích H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 8,59 (Tám phẩy năm chín) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì thư có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đỗ Bích H ngày 15/9/2021 tại tổ 26, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”

Trả lại 01 điện thoai di động IPHONE màu đen số IMEI 353844083603179, lắp sim 0967.971.975 đã qua sử dụng; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.000.000 đồng(một triệu đồng), 01 chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Bích Hồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 cân điện tử vì không còn giá trị sử dụng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Bích H nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đỗ Bích H khai nhận: Ngày 15/8/2021, bị cáo Đỗ Bích H có hành vi tàng trữ 10,12 gam Methamphetamine. Mục đích mua về để cho chồng sử dụng thì bị bắt giữ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 10,12 gam Methamphetamine của bị cáo Đỗ Bích H đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, để có ma túy sử dụng cho bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Bích H không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 8,59 (Tám phẩy năm chín) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì thư có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đỗ Bích H ngày 15/9/2021 tại tổ 26, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”, đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. .

Đối với 01 điện thoai di động IPHONE màu đen số IMEI 353844083603179, lắp sim 0967.971.975 đã qua sử dụng; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Bích H là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối 01 cân điện tử là tài sản của bị cáo nhưng giá trị sử dụng không lớn cần tịch thu tiêu hủy

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Đỗ Bích H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Bích H 05 năm 06 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giam tạm giữ từ ngày 15/9/2021 đến ngày 21/9/2021

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 8,59 (Tám phẩy năm chín) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì thư có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đỗ Bích H ngày 15/9/2021 tại tổ 26, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”

Trả lại 01 điện thoai di động IPHONE màu đen số IMEI 353844083603179, lắp sim 0967.971.975 đã qua sử dụng; Trả lại 800.000 đồng ( Tám trăm nghìn đồng); 01 chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Bích Hồng. Tạm giữ 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo việc thi hành án

Tịch thu tiêu hủy 01 cân điện tử. (Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2021)

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Bích H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ