- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Văn V và bị đơn Nguyễn Thị Mỹ T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn V
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138 /2021/HNGĐ-ST Ngày: 31/12/2021 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tạ Thị Nhuần
Ông Nguyễn Hải Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Mộng Cầm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 296/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ ấp A, xã L, huyện Ô, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Địa chỉ ấp L1, xã L, huyện Ô, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai cùng ngày 29/10/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Mỹ T thành hôn vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Ô, tỉnh Vĩnh Long ngày 02/5/2013. Thời gian vợ chồng chung sống được 08 năm lúc đầu có hạnh phúc, sau thường phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị T bỏ đi, vợ chồng cắt đứt quan hệ. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, anh yêu cầu được ly hôn với chị T. Về con chung, anh và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 04/10/2019 hiện đang sống chung với anh. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Tại văn bản ngày 18/11/2021 bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T trình: Chị thống nhất như lời trình bày của anh Nguyễn Văn V về thời gian thành hôn, thời gian đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung. Vợ chồng sống chung không có hạnh phúc nên chị đồng ý ly hôn với anh V. Về con chung, chị đồng ý để anh V tiếp tục nuôi 02 con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 04/10/2019, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên Tòa:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn V và bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho anh Nguyễn Văn V ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Nguyễn Văn V tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Mỹ T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn V có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn V có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt ngày 08/11/2021, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt ngày 18/11/2021. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Mỹ T thành hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Ô, tỉnh Vĩnh Long ngày 02/5/2013 nên xem đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống, anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Mỹ T đều xác định có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng anh V chị T đã được gia đình hàn gắn, hoà giải nhưng không đạt kết quả. Sau khi thụ lý vụ án, chị T có văn bản trình bày ý kiến yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh V và cả anh V, chị T đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh V và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giữa anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Mỹ T có 02 con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh năm 04/10/2019 hiện đang sống chung với anh V. Anh V yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, chị T có văn bản thống nhất để anh V tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh V, chị T phát sinh mâu thuẫn, chị T bỏ đi, 02 con chung sống với anh V, các cháu được chăm sóc chu đáo, cho học hành đầy đủ và cháu Nguyễn Trọng H có nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với cha. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo theo nguyện vọng của con chung từ 07 tuổi trở lên, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 04/10/2019 cho anh V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình .
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Anh Nguyễn Văn V là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn V và bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn V có nghĩa vụ nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn V
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T.
3. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 24/8/2014 và Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 04/10/2019 cho anh Nguyễn Văn V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Mỹ T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Văn V có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0014084 ngày 29/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, anh V đã nộp đủ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện ; - Chi cục Thi hành án huyện; - Ủy ban nhân dân xã L (GCNKH số 34, ngày 02/5/2013; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Nga |