- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D và Lê Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH _______________________ Bản án số: 138/2020/HS-ST Ngày: 18/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Minh Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Ngọc
- Ông Nguyễn Thế Căn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Quyết, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2020/HSST ngày 26/11/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2020/HSST-QĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn D (Không có tên gọi khác); Sinh ngày 19/5/1993 tại Móng Cái, Quảng Ninh;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú – nơi cư trú: khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hứa và bà Vi Thị Mùi; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo đầu thú ngày 05/11/2020, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Văn T (Không có tên gọi khác); Sinh ngày 15/5/2000 tại Đầm Hà, Quảng Ninh;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú – nơi cư trú: thôn Tân Trung, xã Tân Bình, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Phương và bà Hoàng Thị Vân; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/8/2020, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh Hùng, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn Cung, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn 5, xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 31/8/2020, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Móng Cái phối hợp với Công an xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái trong khi làm nhiệm vụ tuần tra, phát hiện 02 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Khi tổ công tác tiến lại gần để kiểm tra, thì 01 nam thanh niên điều khiển xe máy bỏ chạy thoát. Tiến hành kiểm tra nam thanh niên còn lại, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay phải 01 vỏ bao thuốc lá màu đen, bên trong có 01 túi nilon trong suốt chứa chất tinh thể màu trăng. Nam thanh niên khai nhận họ tên là Lê Văn T và chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Quá trình mở rộng điều tra vụ án, ngày 05/11/2020, Nguyễn Văn D là nam thanh niên điều khiển xe máy bỏ chạy ra đầu thú. Cơ quan điều tra thu giữ của Lê Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone khi bắt quả tang; thu giữ của Nguyễn Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 14K1-186.49 và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn Dũng.
Tại Bản kết luận giám định số 1240/KLGĐ, ngày 03/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Lê Văn T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,272g (không phẩy hai bảy hai gam).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn D và Lê Văn T đều khai nhận: Trưa ngày 31/8/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, Nguyễn Văn D nhắn tin rủ Lê Văn T mua ma túy về cả hai cùng sử dụng. Sau đó, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 14K1-186.49, đón T tại nhà trọ của T ở khu 1, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái. Trên đường đi, T dùng điện thoại của D gọi điện cho một thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 300.000đ ma túy đá. Người thanh niên hẹn T ở khu Đô thị Green Park thuộc thôn 5, xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái. Khoảng 13 giờ Dũng và Tuấn đến nơi hẹn, Dũng đưa cho Tuấn 300.000đ, Tuấn điện lại cho người thanh niên, thì người thanh niên yêu cầu nhận tiền thông qua tài khoản ví Momo, đồng thời nhắn tin số tài khoản ví Momo. Dũng điều khiển xe chở Tuấn đến cửa hàng Thế giới di động trên đường Hùng Vương thuộc phường Trần Phú. Tại đây, Tuấn nạp vào tài khoản ví Momo mà người thanh niên đã nhắn tin 300.000đ. Sau khi chuyển tiền, Tuấn điện thoại lại cho người thanh niên thông báo đã chuyển tiền, người thanh niên xác nhận đã nhận được tiền. Sau đó, người thanh niên nhắn tin lại cho Tuấn, chỉ chỗ lấy ma túy ở trong vỏ bao thuốc lá để dưới gốc cây trước cửa một quán cafe gần khu đô thị Green Park (quán cafe Hgreen). Khoảng 14 giờ cùng ngày, Dũng chở Tuấn đến địa điểm người thanh niên đã nhắn tin. Dũng dừng xe, còn Tuấn đi bộ đến chỗ để ma túy. Sau khi lấy được vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa ma túy, Tuấn quay lại chỗ Dũng, thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, còn Dũng điều khiển xe mô tô chạy thoát. Ngoài ra Tuấn khai nhận, chiếc điện thoại Iphone bị lực lượng công an thu giữ là của Dũng đưa cho Tuấn để liên lạc với người thanh niên bán ma túy; Dũng khai nhận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14K1-186.49 là của anh trai Dũng là Nguyễn Thanh Hùng, Dũng mượn xe của anh Hùng, anh Hùng không biết Dũng sử dụng xe anh Hùng để đi mua ma túy.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh Hùng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có nội dung lời khai thể hiện: Bị cáo Nguyễn Văn Dũng là em trai của anh Hùng. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14K1-186.49 là tài sản hợp pháp của anh Hùng, đăng ký mang tên anh Hùng. Anh cho Dũng mượn để làm phương tiện đi lại, anh không biết Dũng sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy.
Người chứng kiến ông Hoàng Văn Cung trong quá trình điều tra có nội dung lời khai thể hiện ông được chứng kiến lực lượng công an kiểm tra đối với Lê Văn Tuấn, phát hiện và thu giữ một vỏ bao thuốc lá bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, Tuấn khai nhận là ma túy đá.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người thanh niên đã bán ma túy cho hai bị cáo.
Bản cáo trạng số 137/CT-VKS-MC, ngày 25/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Dũng từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2020.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Lê Văn Tuấn từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2020.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.
- Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone; Trả lại cho bị cáo Dũng 01 chứng minh thư nhân dân.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; căn cứ vào Biên bản phạm tội quả tang lập ngày 31/8/2020; Kết luận giám định trên cơ sở nội dung lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ, ngày 31/8/2020, Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn đã có hành vi mua 0,272g (không phẩy hai bảy hai gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi mua 0,272 g Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c, Methamphetamie... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, thiếu ý thức chấp hành pháp luật các bị cáo vẫn thực hiện hành vi pháp luật không cho phép đó là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mặc dù bị cáo Nguyễn Văn Dũng là người khởi xướng, bỏ tiền ra mua ma túy, nhưng bị cáo Lê Văn Tuấn là người tích cực trong việc thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp liên lạc, chuyển tiền cho người thanh niên bán ma túy, trực tiếp là người đi lấy ma túy, do đó hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
[6] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn không có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Dũng sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bố mẹ bị cáo đều tham gia thanh niên xung phong, ông nội bị cáo được tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo lao động tự do, không có công việc thu nhập ổn định, do đó không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy thu giữ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết ấn định cho các bị cáo mức hình phạt ở trong khung đã truy tố, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để các bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, công cụ, phương tiện phạm tội, vật không có giá trị sử dụng, do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu bạc thu giữ của Lê Văn Tuấn, được xác định là của bị cáo Nguyễn Văn Dũng, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc mua trái phép chất ma túy để sử dụng, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn Dũng là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo Dũng.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 14K1-186.49, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thanh Hùng, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hùng là đúng quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không đề cập.
[9] Liên quan trong vụ án có đối tượng thanh niên bán ma túy cho hai bị cáo, nhưng quá trình điều tra không xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Dũng 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2020.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Tuấn 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2020.
*) Về xử lý vật chứng và tiền do phạm tội mà có:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,21g (không phẩy hai một gam) Methamphetamine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại kèm theo KLGĐ số 1240/KLGĐ ngày 03/9/2020”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu đen, mặt ngoài in nhiều chữ nước ngoài;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, bên trong lắp 01 (một) sim, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Dũng 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 101213219 mang tên Nguyễn Văn Dũng.
(Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28/2021/THA, ngày 08/12/2020.)
*) Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/12016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Dũng và Lê Văn Tuấn, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
*)Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
Đoàn Minh Chiến
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Nguyễn Thị Ngọc Nguyễn Thế Căn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
Đoàn Minh Chiến
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Nguyễn Thị Ngọc Nguyễn Thế Căn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
Đoàn Minh Chiến
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Nguyễn Thị Ngọc Nguyễn Thế Căn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
Đoàn Minh Chiến
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Nguyễn Thị Ngọc Nguyễn Thế Căn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
Đoàn Minh Chiến
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Trần Minh Phương Nguyễn Thị Thanh Nga Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
Đoàn Minh Chiến Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an thành phố Móng Cái;
- Bị cáo; Bị hại; Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- Thi hành án HS+DS;
Đoàn Minh Chiến
- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Minh Chiến Lê Thị Ngọc Nhung Nguyễn Văn Đặng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Công an thành phố Móng Cái; - Bị cáo; Đại diện bị hại. - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án HS+DS; - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Minh Chiến |