vanban.org

Bản án 138/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật. Bị cáo Lê Văn T không phải nộp án phí phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 138/2020/HS-PT
Ngày 07-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;

Các Thẩm phán: ông Ngô Tự Học;

ông Hoàng Văn Hạnh.

- Thư ký phiên toà: bà Chu Thị Dịu - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2020/TLHS-PT ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 132/2019/HS-ST ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo kháng cáo:

Lê Văn T sinh năm 1989; trú tại thôn LV, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Đặng Thị H; có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-6-2019 đến ngày 29-7-2019, có mặt.

- Người bị hại:

+ Bà Vũ Thị N (đã chết).

+ Ông Trần Văn B (đã chết).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tòa án cấp sơ thẩm kết án Lê Văn T về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 04-6-2019, Lê Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng E, số 240.112.245.427 do Sở Giao thông vâ ân tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 05/7/2017 (T là chủ xe ô tô khách giường nằm BKS 98B-021.48 loại 03 chô ngồi, 43 chô nằm và giấy chứng nhâ ân kiểm định an toàn kỹ thuâ ât có hiê âu lực đến hết ngày 17-6-2019, mang tên nhà xe HT chạy tuyến từ thành phố Bắc Giang chở khách vào tỉnh Tây Ninh). Cùng đi trên xe ô tô có anh Đă âng Văn Q và anh Đă âng Văn H1, đều ở huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang (là lái phụ) và anh Trần Văn B ở ấp TH, xã ATĐ, huyê ân CB, tỉnh Tiền Giang (là phụ xe). Trên xe lúc này có khoảng 20 hành khách, khi đi đến Km377+650 trên Quốc lô â 1A, thuô âc địa phâ ân xã ML, huyê ân TG, tỉnh TH, Lê Văn T (lái xe) do buồn ngủ thiếu chú ý quan sát, đi sai làn đường, phần đường nên để xe ô tô khách đâm va vào thành cầu H2 bên phải đường theo hướng từ bắc vào nam làm đứt gãy lan can thành cầu dài 4 m, xe ô tô mắc kẹt trên thành cầu, phần đầu xe cắm xuống sông, đuôi xe bám treo trên thành cầu. Hâ âu quả vụ tai nạn làm bà Vũ Thị N (hành khách) ở thôn TA, xã AT, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang nằm phía cuối xe ô tô và anh Trần Văn B (phụ xe) ngồi phía đầu xe bị tử vong, 08 người khác trên xe ô tô bị thương; xe ô tô BKS 98B-021.48 bị hư hỏng nă âng và mô ât số hạng mục công trình của cầu H2 thuô âc xã ML, huyê ân TG, tỉnh Thanh Hóa bị hư hỏng.

Sau khi tai nạn xảy ra, các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiê âm hiê ân trường, khám nghiê âm tử thi và kiểm tra trên xe có 08 người bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bê ânh viê ân đa khoa quốc tế HL gồm có: các anh Đă âng Văn H1 ở thôn S, xã QT, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang; anh Vũ Văn L ở xã DT, huyê ân DC, tỉnh Nghê â An; ông Nguyễn Văn T1 ở thôn TL, xã HL, huyê ân HH, tỉnh Bắc Giang; bà Nguyễn Thị L1 ở thôn CS, xã LS, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang; cháu Nguyễn Thị Minh T2 ở thôn TA, xã AT, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang; ông Thân Nhân Tr ở tổ 4, ấp TC, xã TH, huyê ân TC, tỉnh Tây Ninh; cháu Bùi Thùy Thủy T3 ở thôn CM và bà Lê Thị D ở thôn CC, xã ĐH, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi gây ra tai nạn, đến 18 giờ ngày 04-6-2019, Lê Văn T ra đầu thú.

Kết quả khám nghiê êm hiê ên trường thể hiê ên:

Hiê ân trường nơi xảy ra vụ án tại Km377+642 QL1A thuô âc phần đường phía tây thuô âc địa phâ ân thôn HL, xã ML, huyê ân TG, tỉnh Thanh Hóa khu vực về phía bắc cầu H2. Đường QL1A gồm hai phần đường xe chạy ngược chiều riêng biê ât, ở giữa có dải phân cách cứng, môi phần đường rô âng 9m40, đường có vạch sơn phân chia làn đường cho xe cơ giới và xe thô sơ, hai bên thành cầu đều có thành cầu và lan can, bên ngoài là đường, phần đường hướng bắc-nam không có hê â thống biển báo hiê âu. Ghi nhâ ân viê âc đánh số thứ tự theo số tự nhiên từ vị trí nạn nhân, phương tiê ân, tang vâ ât và dấu vết thấy: 1. Cọc ống kim loại có kích thước (60x19) cm; 2. Cọc ống kim loại có kích thước (60x19) cm; 3. Cọc ống kim loại có kích thước (60x19) cm; 4. Cọc ống kim loại có kích thước (60x19) cm; 5. Trụ bê tông nằm có kích thước (2m90x0m40); 6. Cô ât kim loại đèn cao áp; 7. Khu vực thành cầu bị hư hỏng dài 4 m; 8. Vị trí xe ô tô BKS 98B-021.48.

Hô âi đồng khám nghiê âm thống nhất tiến hành khám nghiê âm theo chiều từ bắc vào nam. Lấy mép góc nhà kho của ông Lê Văn H3 làm điểm mốc và mép đường, thành cầu phía tây phần đường hướng bắc-nam làm mép chuẩn.

(1) Cọc ống kim loại có kích thước (60x19) cm: cọc bị nằm ngả nghiêng theo chiều từ bắc vào nam, mă ât phía bắc cọc có vết cà xước, cọc cách mép đường làm chuẩn là 0m30.

(2) Cọc ống kim loại có kích thước (60x19)cm: cọc nằm ngả nghiêng theo chiều từ bắc vào nam, mă ât cọc phía bắc có vết cà xước theo chiều từ bắc vào nam, chiều từ chân cọc lên phía trên, cọc cách cọc số (1) là 3m, cách mép đường làm chuẩn là 0m30.

(3) Cọc ống kim loại có kích thước (60x19)cm: cọc bị ngả nghiêng về phía nam, mă ât phía bắc cọc có vết cà xước từ chân cọc lên, cọc cách cọc số (2) là 3m, cách mép đường làm chuẩn là 0m30.

(4) Cọc ống kim loại có kích thước (60x19)cm: cọc bị ngả nghiêng về phía nam, mă ât phía bắc cọc có vết cà xước từ chân cọc lên, cọc cách cọc số (3) là 3m, cách mép đường làm chuẩn là 0m30, cọc cách mép đuôi xe ô tô BKS 98B-021.48 là 3m10.

(5) Trụ bê tông nằm có kích thước (2m90x0m40): trụ bê tông nằm dưới mă ât đất dọc theo chiều bắc-nam, tâm trụ cách cọc số (1) là 3m20, cách mép đường làm chuẩn là 0m70.

(6) Vị trí trụ cô ât đèn cao áp chiếu sáng, cô ât đèn cách mép đường làm chuẩn là 2m10, mă ât phía đông cô ât đèn phía đường QL1A có vết cà xước kích thước (40x10) cm, vết cao so với mă ât đất là 40 cm.

(7) Khu vực thành cầu bị hư hỏng dài 4 m, thành cầu cao so với mă ât đường là 0m60, rô âng 40 cm, mă ât trên bị bong tróc thành cầu phía trên, thành cầu có khung lan can kim loại cao 0m60 bị bung bâ ât xô dồn về phía nam, vết trên thành cầu đều có chiều từ bắc vào nam.

(8) Vị trí xe ô tô BKS 98B-021.48: xe nằm đổ nghiêng phải, đầu xe chúc xuống dưới sông chân cầu Hổ, phần đuôi xe nằm sát với mă ât đất khu vực thành cầu, mă ât nước dưới sông chân cầu cách thành cầu mă ât đường là 4,8 m. Xe nằm dọc song song với cầu, trục trước, sau bên trái xe nhô lên phía trên đo vào thành cầu đều là 0m90, đuôi xe cách điểm mốc là 3m40. Tử thi là nữ bị nằm đè phía dưới hông phần đuôi xe ô tô.

Kết quả khám nghiê êm tử thi:

1. Nạn nhân Vũ Thị N sinh năm 1949 ở xã AT, huyê ên YT, tỉnh Bắc Giang:

- Khám ngoài:

+ Phía trên, bên ngoài mă âc áo vải dài tay màu nâu đen; bên trong mă âc áp dài tay màu đỏ đen. Phía dưới: bên ngoài mă âc quần dài màu đen, bên trong mă âc quần lót màu trắng. Mă ât trước hai áo vùng ngực và cổ áo có rách đứt vải nham nhở trong diê ân 35x28 cm, trên bề mă ât vải bám dính nhiều mảnh kính vỡ vụn.

+ Tử thi dài 152 cm, thể tạng trung bình.

- Các dấu vết trên cơ thể:

+ Vết rách da, cơ không rõ hình kích thước (3,5x2,7) cm, sát ngoài đuôi cung lông mày và đuôi mắt phải, chiều hướng vết từ trái qua phải, bờ mép vết sắc gọn.

+ Lưỡi bám chă ât trong cung răng.

+ Vết thương rách, đứt tổ chức da, cơ không rõ hình kích thước (29,5x14) cm, tại vùng cổ trước vùng cổ trên bên phải đến vùng ngực hai bên, chiều hướng vết nham nhở, mă ât vết bám dính nhiều mảnh kính vỡ vụn.

+ Vết rách da, cơ không rõ hình kích thước (12x5) cm tại mă ât sau ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, bờ mép vết nham nhở. Gãy trâ ât đầu dưới hai xương cẳng tay trái.

+ Vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục kích thước (19x11) cm; vùng lưng trái ngang vị trí xương sườn số 7,8,9, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, từ sau về trước, bờ mép các vết rách nham nhở.

+ Vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu không liên tục, không rõ hình kích thước (6x4,5) cm, tại mă ât sau 1/3 trên cẳng chân phải, chiều hướng vết từ trên xuống dưới.

- Mổ tử thi: mở rô âng vết thương vùng cổ phải và vùng ngực: tổ chức dưới da cơ vùng cổ phải và vùng ngực dâ âp, rách nham nhở. Gãy phức tạp cung trước và cung bên xương sườn số 1,2,3,4,5,6,7,8 hai bên, lồng ngực sâ âp, biến dạng. Đứt rời đô âng mạch cánh phải, thanh quản, quai đô âng mạch chủ. Hai phổi bị dâ âp rách. Dâ âp vỡ đốt sống ngực số 1,2.

Tại Bản kết luâ ân giám định pháp y số 1511/GĐPY-PC09 ngày 17-6-2019, Phòng Kỹ thuâ ât hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luâ ân nguyên nhân chết của bà Vũ Thị N là đa chấn thương.

2. Nạn nhân Trần Văn B sinh năm 1965 ở ấp TH, xã ATĐ, huyê ên CB, tỉnh Tiền Giang:

- Khám ngoài: phía trên tử thi không mă âc áo, phía dưới bên ngoài mă âc quần bò màu xanh đen, bên trong mă âc quần sịp màu tím than. Quần bò trong tình trạng ẩm ướt bám dính nhiều bùn đất. Tử thi dài 163 cm, thể tạng trung bình.

- Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

+ Vết khâu kín chỉ không rõ hình dài 7,5 cm tại vùng trán phải.

+ Vết rách da, bầm tụ máu không rõ hình kích thước (4x2,5) cm, tại đầu lông mày phải, chiều hướng vết từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Bờ mép vết rách nham nhở.

+ Vết xây xước da không rõ hình kích thước (1,2x0,5) cm, vùng đuôi lông mày trái.

+ Mũi, miê âng có nhiều dịch bọt, dịch đục thoát ra ngoài khi thay đổi tư thế.

+ Vết xây xước da, rách da bầm tụ máu không liên tục, không rõ hình kích thước (29x5,5) cm, tại mă ât trước ngoài cẳng tay phải.

+ Vết xây xước da, bầm tụ máu rách da không liên tục, không rõ hình toàn bô â vùng bụng, vùng ngực bên phải.

+ Vết rách da không rõ hình kích thước (1,5x0,5) cm, vùng lưng cách dưới vai phải 7 cm, chiều hướng vết từ trái sang phải. Bờ mép vết rách nham nhở.

+ Vết xây xước da, rách da, bầm tụ máu không rõ hình kích thước (11x8) cm vùng hông phải.

+ Vết bầm tụ máu không rõ hình trong diê ân (16x12) cm, tại mă ât sau ngoài 1/3 trên đùi phải.

+ Vết bầm tụ máu không rõ hình trong diê ân (12x4,5) cm, tại mă ât trước ngoài gối phải.

+ Vết bầm tụ máu không rõ hình trong diê ân (3x2,5) cm, tại mă ât trước gối trái.

- Mổ tử thi:

+ Rạch da cổ, ngực, bụng: Tổ chức dưới da, cơ vùng cổ, ngực, bụng không phát hiê ân thấy tổn thương. Hê â thống xương lồng ngực không phát hiê ân thấy tổn thương.

+ Mở lồng ngực, ổ bụng: Khoang ngực hai bên không có dịch; hai phổi căng, thùy dưới phổi phải dính vào thành ngực, lồng thanh khí, phế quản chứa nhiều dịch bọt hồng lẫn dị vâ ât. Cắt qua tổ chức phổi trên bề mă ât diê ân cắt có nhiều dịch bọt hồng.

+ Khoang ngoài tim không có dịch, tim không phát hiê ân thấy tổn thương, ổ bụng không có dịch, gan màu nâu sẫm không có tổn thương. Dạ dày có nhiều dịch nước lẫn thức ăn đang nhuyễn, niêm mạc dạ dày xung huyết.

Hiê ân tại các bô â phâ ân khác trong ổ bụng không phát hiê ân thấy tổn thương.

Tại bản kết luâ ân giám định pháp y số 1501/GĐPY-PC09 ngày 17-6-2019, Phòng Kỹ thuâ ât hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luâ ân nguyên nhân chết của ông Trần Văn B là do ngạt nước.

Kết quả khám phương tiê ên xe ô tô BKS 98B-021.48:

- Mă ât trước ngoài góc bên phải ba đờ xốc trước đến mă ât ngoài thành xe bên phải có 03 vết cà trượt làm mòn sơn màu xanh và kim loại; vết thấp nhất cao cách mă ât đất là 37 cm, vết thứ hai cao cách mă ât đất là 74 cm, vết thứ ba cao cách mă ât đất 93 cm (tính từ dưới lên trên), kích thước môi vết (1200x3) cm, chiều hướng vết từ trước về sau, chếch từ trái qua phải.

- Toàn bô â ba đờ xốc trước, cụm đèn chiếu sáng phải trước ốp mă ât nạ đầu xe, kính chắn gió trước, gương chiếu hâ âu bên phải bị gãy rời khỏi xe. Tại mă ât ngoài thành xe bên phải (từ ba đờ xốc trước) có các dấu vết cà làm mòn sơn màu xanh, nứt vỡ nhựa kích thước (300x330) cm, chiều hướng vết từ trước về sau, hơi chếch từ trên xuống dưới, bề mă ât vết bám dính bùn đất, làm vỡ toàn bô â hê â thống kính chắn gió bên phải thành xe, móp mép thành xe bên phải.

- Mă ât ngoài các bu lông tích kê bánh trước bên phải, mă ât và má ngoài lốp trước bên phải tương ứng đầu hàng chữ “JOYALL” có vết tì trượt làm mòn kim loại và cao su trong diê ân (70x45) cm, chiều hướng vết ngược chiều chuyển đô âng tiến chếch từ ngoài vào tâm, bề mă ât bám vết bám dính bô ât đá bê tông.

- Mă ât trước ba dọc bên trái có vết cà trượt làm mòn kim loại có kích thước (52x24) cm, chiều hướng vết từ trước về sau, từ phải qua trái làm cong vênh phần trước sắt xi từ phải qua trái, lê âch so với vị trí ban đầu 58 cm; gãy ba đờ xốc tại đầu nối trước trục lái gãy tại vị trí liên kết với bót lái. Ti ô trợ lực lái gãy tại vị trí liên kết với trợ lực lái; bàn đạp phanh bị gãy không còn trên xe, bàn đạp ga bị gãy rời khỏi bị trí ban đầu.

- Kính chắn gió bên trái đầu xe và ô cuối bị vỡ hoàn toàn rơi khỏi xe.

- Thành xe bên trái, mă ât và má lốp bên trái, bên phải thành sau xe không phát hiê ân thấy dấu vết biến dạng, các lốp căng đều.

Tại kết luâ ân giám định số 1295/PC09 ngày 27-6-2019, Phòng Kỹ thuâ ât hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định:

- Không phát hiê ân thấy dấu vết thể hiê ân có sự va chạm giữa xe ô tô BKS 98B-021.48 với phương tiê ân khác.

- Các dấu vết trên xe ô tô BKS 98B-021.48 phù hợp do xe va chạm với 04 cọc ống kim loại, trụ bê tông, cô ât đèn cao áp chiếu sáng và thành cầu Hổ tạo nên.

- Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô BKS 98B-021.48 có hướng chuyển đô âng từ bắc vào nam, chếch từ đông sang tây.

- Không xác định được tình trạng an toàn kỹ thuâ ât của xe ô tô BKS 98B-021.48 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Công văn số 1838/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 25-6-2019 của Sở Giao thông vâ ân tải tỉnh Bắc Giang và Kết luâ ân giám định số 3399/C09-P6 ngày 19-7-2019 của Viê ân Khoa học hình sự Bô â Công an trả lời:

- Từ 00 giờ 00 phút ngày 04-6-2019, xe ô tô BKS 98B-021.48 bắt đầu di chuyển theo hành trình: ĐT 295, xã SV, huyê ân TY, tỉnh Bắc Giang - QL17 - TP. BG - QL1A - Cầu TT - Cao tốc CG và đến khu vực đường TNT, P. NS, TP. NB, tỉnh Ninh Bình vào lúc 02 giờ 54 phút 46 giây cùng ngày. Tốc đô â lớn nhất trong khoảng thời gian này là 98km/h vào lúc 02 giờ 30 phút tại khu vực Cao tốc CG - NB, xã LT, huyê ân TL, tỉnh Hà Nam.

- Từ 02 giờ 54 phút 47 giây ngày 04-6-2019 đến hết ngày 04-6-2019 thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô BKS 98B-021.48 không truyền dữ liê âu về hê â thống khai thác và xử lý dữ liê âu từ thiết bị giám sát hành trình thuô âc Tổng cục Đường bô â Viê ât Nam.

Viê ân Khoa học hình sự Bô â Công an kết luâ ân về giám định thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô BKS 98B-021.48 như sau:

- Trích xuất được dữ liê âu tốc đô â từng giây trong khoảng thời gian từ 00 giờ đến 02 giờ 51 phút ngày 04-6-2019 (có biểu mẫu kèm theo kết luâ ân).

- Trích xuất dữ liê âu hành trình trong khoảng thời gian từ 00 giờ đến 02 giờ 54 phút (có biểu mẫu kèm theo kết luâ ân).

Ngày 01-7-2019, Sở Giao thông vâ ân tải tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản số 2401/SGTVT-QLGT xác định tốc đô â phương tiê ân lưu thông trên QL1A đoạn qua Km377+650 thuô âc xã ML, huyê ân TG thì xe ô tô chở khách trên 30 chô ngồi được chạy tốc đô â tối đa là 80km/h.

- Về tốc đô â: Tại thời điểm 02 giờ 54 phút 47 giây thiết bị giám sát hành trình trên xe ô tô BKS 98B-021.48 không truyền dữ liê âu hê â thống khai thác và xử lý dữ liê âu từ thiết bị giám sát hành trình thuô âc Tổng cục Đường bô â Viê ât Nam, nên tại thời điểm xảy ra tai nạn không xác định được tốc đô â của xe chạy.

- Tại Bản kết luâ ân giám định số 1497/PC09 ngày 14-6-2019, Phòng Kỹ thuâ ât hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luâ ân: mẫu máu thu của Lê Văn T niêm phong gửi giám định không có cồn.

- Ngày 14-6-2019 Trung tâm y tế huyê ân Tĩnh Gia xét nghiê âm mẫu máu thì lái xe Lê Văn T âm tính với ma túy.

Về bồi thường dân sự:

Về hư hỏng tài sản cầu H2: Ngày 30-8-2019 tại Sở Giao thông vâ ân tải tỉnh Thanh Hóa, ông Trịnh Đình T4 là người được ủy quyền đại diê ân chủ đầu tư của Ban quản lý dự án giao thông 1 - Sở Giao thông vâ ân tải tỉnh Thanh Hóa và Lê Văn T là chủ xe ô tô khách đã thỏa thuâ ân bồi thường thiê ât hại (cầu H2) với số tiền 29.000.000 đồng. Bị cáo T đã bồi thường xong.

Ngày 12-6-2019 và ngày 16-8-2019, Lê Văn T và gia đình đã thỏa thuâ ân bồi thường xong phần dân sự cho ông Nguyễn Xuân C1 (là chồng nạn nhân Vũ Thị N) số tiền là 105.000.000 đồng. Ông C1 đại diê ân gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiê âm hình sự đối với bị cáo.

Ngày 07-6-2019 chị Trần Thị P1 là người được bà Trần Thị 4 (mẹ đẻ của nạn nhân Trần Văn B) ủy quyền nhâ ân số tiền 100.000.000 đồng của gia đình bị cáo Lê Văn T bồi thường. Phần dân sự hai bên đã thỏa thuâ ân giải quyết xong, gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiê âm hình sự đối với bị cáo Tùng.

Đối với thương tích của 08 người hành khách khác trên xe: Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lê â tổn thương cơ thể cho 08 bị hại gồm: Đă âng Văn H1, Vũ Văn L, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị Minh T2, Thân Nhân Tr, Bùi Thùy Thủy T3 và Lê Thị D nhưng những người này đều có đơn từ chối giám định do thương tích đã ổn định. Đại diê ân gia đình bị cáo và bị cáo đã hô trợ tiền thuốc, phí điều trị cho những người bị thương với tổng số tiền 54.270.000 đồng và họ không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-P2 ngày 29-10-2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án số 132/2019/HS-ST ngày 28-11-2019, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn T 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong phần bồi thường dân sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 28-11-2019, Lê Văn T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

Bị cáo đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo nêu trên, vì ngoài các lý do đã được xem xét, thì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ; có ông bà ngoại được tặng thưởng Huy chương, có bác ruột là Lê Văn T5 là Liệt sĩ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có ý kiến căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng. Dù có xem xét đến tình tiết bị cáo có ông bà ngoại được tặng thưởng Huân chương, có bác ruột là liệt sĩ thì việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 24 tháng tù là phù hợp. Không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Vào khoảng 03 giờ ngày 04-6-2019, Lê Văn T đã có hành vi điều khiển xe ô tô khách biển số 98B-021.48 không đi đúng phần đường, làn đường quy định để xe ô tô do T điều khiển đâm vào trụ bê tông, cô ât đèn cao áp và thành cầu Hổ (thuộc địa phận xã ML, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa); hậu quả làm 02 người trên xe chết, 08 người khác bị thương và thiệt hại tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án Lê Văn T về tô âi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bô â” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luâ ât.

Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng gia đình đã bồi thường, giải quyết xong toàn bộ phần dân sự cho đại diện bị hại và khắc phục, sửa chữa kịp thời các thiệt hại vật chất khác, đại diện bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, kết án bị cáo 24 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giao nộp các tài liệu mới thể hiện việc bị cáo có ông bà ngoại là ông Đặng Văn H4 và bà Hoàng Thị N1 là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, có bác ruột là Liệt sĩ; hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án trước và sau khi xét xử sơ thẩm, nhân thân bị cáo, xét thấy có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng; giáo dục, cải tạo trong việc xử lý tội phạm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

. Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa Bản án số 132/2019/HS-ST ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa như sau:

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn T 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-6-2019 đến ngày 29-7-2019.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

3. Bị cáo Lê Văn T không phải nộp án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- Công an tỉnh Thanh Hóa;

- Cục T.H.A DS tỉnh Thanh Hóa;

- Bị cáo Lê Văn Tùng;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP.

Nguyễn Tất Nam CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tự Học

Hoàng Văn Hạnh

Nguyễn Tất Nam Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Công an tỉnh Hà Nam;

- Cục T.H.A DS tỉnh Hà Nam;

- Các bị cáo kháng cáo;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP.

Nguyễn Tất Nam CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng

Hoàng Mạnh Hùng

Nguyễn Tất Nam Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND tỉnh Nam Định;

- VKSND tỉnh Nam Định;

- Công an tỉnh Nam Định;

- Cục T.H.A DS tỉnh Nam Định;

- Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản);

Nguyễn Tất Nam

- Đại diện bị hại: Chị Nguyễn Thị Biên;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP. CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Đức Chính

Lê Thị Thúy Bình

Nguyễn Tất Nam Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- Công an thành phố Hà Nội;

- Cục T.H.A DS tp Hà Nội;

- Trại giam B14 - Bộ Công an (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản);

Nguyễn Tất Nam

- Bị hại: Ông Nguyễn Tiến Binh;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP. CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hồng Phúc

Bùi Xuân Trọng

Nguyễn Tất Nam Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- Công an thành phố Hà Nội;

- Cục T.H.A DS tp Hà Nội;

- Trại giam B14 - Bộ Công an (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản);

Nguyễn Tất Nam

- Bị hại: Ông Nguyễn Tiến Binh;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP. CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Hạnh

Bùi Thị Minh

Nguyễn Tất Nam

Cỡ chữ