- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Văn D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ Bản án số: 138 /2020/ HNGĐ-ST Ngày: 14-7-2020 “V/v Ly hôn giữa anh D và chị T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà TRẦN TÚ ANH
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông THÂN VĂN KỲ
2. Ông TRẦN TRUNG NHÂN
- Thư ký phiên tòa: Bà ĐẶNG THỊ THÙY DUNG - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2020/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2020/QĐXX-ST ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
( Anh D xin vắng mặt, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện nguyên đơn anh Trần Văn D trình bày: Anh và chị T tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H năm 2009. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, thường xuyên cãi vã nên gia đình mất hạnh phúc. Vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị V sinh ngày 15/01/2007 do anh D nuôi dưỡng.
Tài sản chung không tranh chấp, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh D xin được ly hôn với chị T. Con chung anh yêu cầu nuôi, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị T dù đã được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng và được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 14/7/2020 anh D có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận đi làm. Đối với chị Nguyễn Thị T dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả 02 đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh D và chị T tiến đến hôn nhân năm 2006, đăng ký kết hôn năm 2009 trên cơ sở có sự tìm hiểu nhau trước. Tuy nhiên anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn làm cho tình cảm vợ chồng không còn. Nguyên nhân do anh chị tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cãi nhau và anh chị đã ly thân từ 2019 đến nay. Qua xác minh chính quyền địa phương thì chị T không còn sống chung với anh D, con chung do anh D nuôi. Đối với chị T dù đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt và không có tờ tự khai hay biên bản trình bày ý kiến về việc anh D xin ly hôn. Từ đó cho thấy tình cảm vợ chồng anh chị không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xem xét cho anh D được ly hôn với chị T là phù hợp điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Thị V sinh ngày sinh ngày 15/01/2007 hiện nay đang do anh D nuôi dưỡng. Xét thấy con chung đang được anh D nuôi dưỡng, cháu vẫn phát triển bình thường, có nguyện vọng được ở với anh D nếu cha mẹ ly hôn. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục giao con chung cho anh D nuôi dưỡng là phù hợp điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại tờ tự khai, đơn khởi kiện anh D không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên ghi nhận.
Về tài sản chung không tranh chấp, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu ly hôn được chấp nhận theo qui định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Văn D.
1. Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn D được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
2. Về con chung:
2.1. Tiếp tục giao con chung tên Trần Thị V, sinh ngày 15/01/2007 cho anh Trần Văn D nuôi dưỡng.
2.2. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo qui định pháp luật.
3. Về án phí: Anh Trần Văn D phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Anh đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003094 ngày 18/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè xem như thi hành xong.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn D, chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN TÚ ANH |