- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Đình Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt Lương Đình Q 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số:138/2018/HSST Ngày: 04/4/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xây
2. Ông Trần Xuân Viện
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Kao Hoàng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: ông Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại Hội trường UBND phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 144/2018/HSST ngày 15/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2018/QĐXXST-HS ngày 22/3/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Đình Q, tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 23 tháng 6 năm 1997; nơi cư trú: tổ 19, phường Ch, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: xóm S, xã H, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; con ông Lương Đình D và bà Hoàng Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2018 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 ngày 06/02/2018, tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Nh, phường Đ, thành phố Thái Nguyên, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi áo khoác bên trái của Lương Đình Q đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng, Q khai là Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 359/KL-PC54 ngày 09/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lương Đình Q là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,171 gam.
Tại Cơ quan điều tra Lương Đình Q khai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/02/2018, Q đi bộ từ nhà tới khu vực xóm Nh, phường Đ, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Q gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Mua xong, Q cất gói ma túy vào túi áo khoác đang mặc đi tìm chỗ sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu Q, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKSTPTN, ngày 13/3/2018, VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Lương Đình Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lương Đình Q khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 154/CT-VKSTPTN, ngày 13/3/2018, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Đình Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Lương Đình Q từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tôi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; đó là:… c) Heroine ...có khối l ượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Bản cáo trạng số 154/CT-VKSTPTN, ngày 13/3/2018 của VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Lương Đình Q theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện, không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong ký hiệu Q.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam bị cáo; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí;
1/ Xử phạt Lương Đình Q 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/02/2018.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Quyết định tạm giam bị cáo Lương Đình Q 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
3/Về án phí: buộc bị cáo Lương Đình Q phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Quý Sửu |