vanban.org

Bản án 138/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 138/2018/HSST Tuyên án 21/09/2018
Phúc thẩm Bản án 128/2018/HSPT-QĐ Tuyên án 19/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!
HUYỆN!Y!
TỈNH!BẮC!NINH!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2018/HSST
Ngày 21/9/2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!!!!!!!TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!Y,!TỈNH!BẮC!NINH!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Đức Năm .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tiến và ông Kiều Văn Dậu.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Việt, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2018/HSST ngày 30/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2018/QĐXXST-HS ngày 13/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên:!Bùi Ngọc Kh - Sinh năm 1997.!

Nơi ĐKHKTT: Xóm Ch, xã Ng, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.!

Tạm trú: Thôn M, xã L, huyện Y, Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc Th và bà Quách Thị H; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Bà Ngô Thị V, sinh năm 1971 (đã chết)

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

*Đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Nguyễn Như Ph, sinh năm 1970

2. Anh Nguyễn Như T, sinh năm 1994

3. Anh Nguyễn Như Đ, sinh năm 1996

Đều ủy quyền cho ông Nguyễn Như Tr, sinh năm 1954. Có mặt.

Cùng trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bùi Ngọc Th, sinh năm 1975 (bố đẻ bị cáo). Có mặt.

Trú tại: Xóm Ch, xã Ng, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1995. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 19/03/2018, tại tỉnh lộ (TL) 286 thuộc địa phận thôn Ch, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Ngọc Kh sau khi đã sử dụng rượu, bia điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @ sơn màu trắng Biển kiểm soát (BKS) 28F1-065.xx không có giấy phép lái xe theo quy định đi theo hướng Đ - thị trấn Ch lấn sang phần đường ngược chiều nên đã đâm vào xe mô tô nhãn hiệu SYM NewAngel Hi sơn màu nâu BKS 99F8-71xx do chị Ngô Thị V điều khiển đi theo hướng thị trấn Ch - Đ. Hậu quả chị Ngô Thị V bị thương nặng, sau đó đã chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh hồi 01 giờ 00 phút ngày 20/03/2018.!

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, phương tiện và khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:

*Về hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông trên TL 286 thuộc địa phận thôn Ch, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, là đoạn đường mặt đường được rải nhựa, mặt đường gồ ghề, không bằng phẳng, bị nứt vỡ, có lòng đường rộng 4,10m. Lề đường hướng đi Đ đến thị trấn Ch rộng 4,60m, cao hơn mặt TL 286 là 0,65m. Lề đường hướng đi thị trấn Ch đến Đ rộng 8,90m, toàn bộ lề đường bên trái có nhiều ổ gà, vũng nước, phương tiện lưu thông khó khăn.

Lấy mép đường bên trái hướng Đ đi đến thị trấn Ch làm chuẩn để phân biệt phải, trái. Lấy cột điện 4B/CL2 làm mốc.

Trên hiện trường phát hiện 02 xe mô tô cụ thể như sau: 01 xe mô tô BKS 28F1-065.xx và 01 xe mô tô BKS 99F8-71xx. Xe mô tô BKS 28F1-065.xx đổ nghiêng phải, đầu xe hướng Đ và hướng ra lòng đường, đuôi xe hướng thị trấn Ch và hướng vào mép đường chuẩn, trục trước bên phải của xe cách mép đường chuẩn là 52cm và cách cột điện 4B/CL2 là 12,70m, trục sau bên phải của xe cách mép đường chuẩn là âm 42cm. Xe mô tô BKS 99F8-71xx đổ nghiêng phải, đầu xe hướng thị trấn Ch và hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng Đ và hướng ra lòng đường, trục trước bên phải của xe cách mép đường chuẩn là âm 15cm, trục sau bên phải của xe cách mép đường chuẩn là 72cm, trục sau bên trái của xe mô tô BKS 99F8-71xx cách trục trước bên trái xe mô tô BKS 28F1-065.xx là 1,22m ngược về hướng Đ. Tại vị trí 02 xe đổ có ổ gà đọng nước nằm dọc sát mép đường chuẩn, kích thước (1,50 x 2,50)m, chỗ sâu nhất 05cm.

Trên hiện trường phát hiện 05 vết cầy xước: Vết cầy xước thứ nhất (ký hiệu V1) có kích thước (7 x 0,3)cm, điểm đầu V1 cách mép đường chuẩn là 96,5cm, cách cột điện 4B/CL2 là 12,65m, cách trục trước bên phải của xe mô tô BKS 28F1-065.xx là 01m, điểm cuối cách mép đường chuẩn là 96cm. Vết cầy xước thứ hai (ký hiệu V2) có kích thước (12 x 1)cm, điểm đầu V2 cách điểm đầu V1 là 40cm và cách mép đường chuẩn là 65cm, điểm cuối V2 cách mép đường chuẩn là 63cm. Vết cầy xước thứ ba (ký hiệu V3) có kích thước (10 x 1)cm, điểm đầu V3 cách điểm đầu V2 là 12cm và cách mép đường chuẩn là 54cm, điểm cuối V3 cách mép đường chuẩn 52cm. Vết cầy xước thứ bốn (ký hiệu V4) có kích thước (19 x 1,2)cm, điểm đầu V4 cách điểm đầu V3 là 22cm và cách mép đường chuẩn là 64cm, điểm cuối V4 cách mép đường chuẩn là 61cm. Vết cầy xước thứ năm (ký hiệu V5) có kích thước (105 x 1)cm, điểm đầu V5 cách điểm đầu V4 là 70cm, cách mép đường chuẩn là 45cm, điểm cuối V5 cách mép đường chuẩn là 33cm. Cả 05 vết cày xước đều có chiều hướng Đ đi thị trấn Ch.

Trên mặt đường ở vị trí dọc theo yên xe mô tô BKS 99F8-71xx có dấu vết màu nâu đỏ (ký hiệu VM1) trên diện (45 x 90)cm. Trên lề đường bên trái hướng Đ đi thị trấn Ch có dấu vết màu nâu đỏ (ký hiệu VM2) có kích thước (23 x 11)cm, tâm cách trục trước bên phải xe mô tô BKS 99F8-7122 là 1,65m và cách mép đường chuẩn âm 14cm.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô BKS 28F1-065.xx; 01 xe mô tô BKS 99F8-71xx và 02 dấu vết màu nâu đỏ ký hiệu VM1, VM2 được thu bằng bông thấm, niêm phong thể hiện trong hồ sơ có biên bản khám nghiệm niêm phong theo quy định.

*Về khám nghiệm phương tiện:

Khám xe mô tô nhãn hiệu SYM NewAngel Hi màu nâu BKS 99F8-71xx:

Xe mô tô nhãn hiệu SYM New Angel Hi sơn màu nâu, BKS 99F8-71xx, có gắn giá kim loại kích thước (97 x 91 x 41)cm ở yên xe phía sau. Toàn bộ cụm đèn chiếu sáng trước, đèn xin nhan, nhựa bảo vệ cụm đèn và mặt lạ xe phía trước bị bung rời khỏi xe để lộ hệ thống dây điện và trục xe. Trục xe phía trước của xe bị đẩy từ trái sang phải làm cho tay lái nằm dọc theo chiều của xe bị cố định không di chuyển được. Thanh kim loại đỡ giỏ xe bị méo bẹp, biến dạng, đẩy từ trước về sau, trên bề mặt thanh kim loại này phát hiện vết trà xước, lõm kim loại kích thước (15 x 0,5)cm bám dính đất bẩn. Chắn bùn trước, phần phía sau của bánh trước xe bị vỡ mất mảnh nhựa, phần còn lại kích thước đo được là (46 x 57)cm, trên bề mặt chắn bùn này phát hiện vết trà xước nhựa trên diện (45 x 19)cm chiều hướng phức tạp. Càng xe phía trước bên trái của xe bị gãy, vỡ, mất mảnh kim loại để lộ phần kim loại phía trong, phần kim loại bị vỡ mất mảnh đo được là (4 x 7)cm. Toàn bộ bánh trước của xe bị biến dạng, đẩy từ phải sang trái theo trục xe một góc 90 độ, lốp xe rời khỏi vành xe trên diện (60 x 1,5)cm, toàn bộ vành xe bị méo bẹp, biến dạng, điểm vành xe gần nhất cách may ơ là 11cm. Trên bề mặt bên trái của lốp xe phía trước phát hiện vết trà xước nhựa, lốp trên diện (38 x 2,5)cm chiều hướng phức tạp, điểm gần nhất cách chân van 45 cm theo chiều ngược chiều tiến của bánh xe. Một số lan hoa bị gãy chân khỏi vành xe. Càng xe bên trái rời khỏi may ơ của xe, trên bề mặt càng xe này tại vị trí phần kim loại gắn với khóa càng xe phát hiện vết mài mòn kim loại trên diện (12 x 2)cm chiều hướng từ trước về sau. Đầu mỏm ốc vít gắn càng xe này với may ơ có vết xước kim loại kích thước (1 x 0,2)cm, điểm thấp nhất cách đất 37cm trong tình trạng xe không tải trọng. Yếm xe bên phải bị vỡ nhựa trên diện (27 x 30)cm, điểm thấp nhất cách đất 38cm trong tình trạng xe không tải trọng. Trên mặt yếm có vết mài mòn nhựa trên diện (36 x 10)cm dạng phức tạp và có bám dính đất bẩn, điểm thấp nhất cách đất 50 cm trong tình trạng xe không tải trọng. Bàn dập phanh của xe bị đẩy từ dưới lên trên ép sát vào máy của xe. Đầu mỏm bàn dập phanh phát hiện vết trà xước mài mòn kim loại kích thước (2 x 0,5)cm, bề mặt phía dưới bàn dập phanh này phát hiện vết trà xước mài mòn kim loại trên diện (27 x 0,1)cm, điểm gần nhất cách bàn dập phanh là 7cm. Thanh kim loại của bàn để chân người lái bên phải bị đẩy từ trước về sau, đầu mỏm cao su bọc ngoài thanh kim này loại bị rách, bám dính đất bẩn trên diện (4,5 x 2)cm để lộ đầu mỏm thanh kim loại, lộ vết xước đường kính 01cm và bám dính chất bẩn dạng đất. Mặt ngoài cùng phía dưới bên phải của giá kim loại gắn với xe mô tô có vết trà xước kim loại và bám dính chất bẩn màu trắng kích thước (2 x 0,1)cm bám dính chất bẩn màu trắng. Điểm gần nhất cách đầu mỏm bàn để chân người ngồi sau bên phải 22cm. Cánh yếm bên trái bị vỡ nhựa trên diện (25 x 12)cm, điểm gần nhất cách đất 40cm trong tình trạng xe không tải trọng. Phía trước của cánh yếm này phát hiện vết mài mòn nhựa kích thước (20 x 0,5)cm.

Khám xe môtô nhãn hiệu Honda Wave @ màu đen trắng BKS 28F1-065.xx:

Đầu mỏm kim loại tay lái bên phải có vết trà xước mài mòn kim loại kích thước (3 x 2)cm, toàn bộ đầu mỏm kim loại này bám dính đất bẩn màu xám. Phần cao su liền kề với đầu mỏm kim loại này bị đẩy từ phải sang trái 0,5cm so với vị trí ban đầu, bám dính đất bẩn trên diện (4 x 5,5)cm. Phần nhựa bảo vệ đồng hồ xe có vết vỡ nhựa có kích thước (1 x 1,5)cm, điểm gần nhất cách công tắc đèn chiếu sáng 05cm. Phần nhựa bảo vệ đồng hồ xe có vết vỡ nhựa kích thước (1 x 1,5)cm, điểm gần nhất cách công tắc đèn chiếu sáng 05cm. Phần nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng của xe bên phải gần chân gương bên phải bị bung khỏi phần nhựa bảo vệ đồng hồ xe kích thước (1,5 x 12)cm. Phần nhựa này rời khỏi cụm đèn chiếu sáng phía trước 1,5cm so với vị trí ban đầu, trên bề mặt phần nhựa này có vết nứt vỡ, trà xước nhựa trên diện (30 x 6)cm tập trung ở phần bên phải của xe. Không phát hiện thấy gáo gương, mặt gương bên phải của xe, chỉ còn lại thanh kim loại gắn giữa xe và gương này. Toàn bộ cụm đèn xin nhan bên phải của xe bị dập vỡ, đẩy vào phía trong của xe phần nhựa dập vỡ kích thước (15 x 7)cm. Tại bề mặt nhựa đèn chiếu sáng phía trước phát hiện vết trà xước nhựa trên diện (20 x 4)cm, chiều hướng phức tại. Gương bên trái bị đẩy về trước 180 độ, toàn bộ kính của gương không còn trên gương. Mặt lạ phía trước của xe bị dập vỡ và có vết trà xước trên diện (33 x 10)cm, bị đẩy từ trước về sau. Chắn bùn phía trước của bánh trước xe bị dập, vỡ nhựa trên diện (21 x 13)cm. Trên bề mặt chắn bùn này có vết trà xước nhựa bám dính chất bùn màu đen, nâu trên diện (35,5 x 30)cm. Bề mặt bên phải lốp xe trước của xe có vết xước, mài mòn lốp kích thước (6 x 2)cm, bắt đầu tại chữ I của dòng chữ ROTATION. Càng xe bên phải bị đẩy từ trước về sau lệch so với càng xe bên trái 1,5cm. Trên bề mặt phía trước của càng xe bên phải này phát hiện vết rách kim loại kích thước (10 x 0,8)cm, chiều hướng từ trước về sau điểm gần nhất cách đất 37,5cm trong tình trạng xe không tải trọng. Bề mặt phía trước của càng xe này gắn với bộ phận trục bánh trước của xe phát hiện vết rách, lõm kim loại trên diện (2,5 x 0,8)cm chiều từ phải sang trái, điểm gần nhất cách đất 17cm trong tình trạng xe không tải trọng. Phần chắn bùn phải trước, bánh trước của xe và phần chắn bùn phía sau bánh trước của xe rời nhau một khoảng 2cm. Cách yếm bên phải của xe bị bung rời khỏi xe, phần nhựa ốp liền kề với cánh yếm này có vết vỡ mất mảnh nhựa kích thước (18 x 5)cm. Bề mặt cạnh ngoài của bàn dập phanh có vết trà xước kim loại kích thước (3 x 0,5)cm trên bề mặt vết trà xước này có bám đất bẩn. Bàn để chân người lái bên phải bị đẩy từ dưới lên trên, ép sát vào máy, mỏm bàn để chân này bám dính đất bẩn, phần cao su ốp ngoài bàn để chân này bị rách cao su kích thước (2 x 2)cm. Bề mặt máy phía dưới, bên phải của xe liền kề với bàn để chân này có vết trà xước kim loại trên diện (10 x 12)cm chiều hướng từ trước về sau, bám dính đất bẩn. Đầu mỏm kim loại của bàn để chân sau bên phải bị mài mòn kim loại diện (1 x 1,5)cm bám dính đất bẩn. Mặt ngoài cuối đuôi bô của xe máy có vết mài mòn kim loại kích thước (6 x 5)cm. Yếm xe bên trái bị bung rời so với mặt lạ của xe, bề mặt bên ngoài yếm phát hiện vết vỡ nhựa kích thước (7 x 0,2)cm theo chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 64cm trong tình trạng xe không tải trọng, phát hiện vết vỡ mảnh nhựa kích thước (12 x 15)cm, điểm gần nhất cách điểm cuối của yếm xe là 14,5 cm. Bàn để chân người lái bên trái của xe bị đẩy từ trước về sau ép sát vào cần sau của xe, không phát hiện thấy phần cao su bọc ngoài của thanh kim loại bàn để chân này, thanh kim loại này có vết trà xước kim loại trên diện (5 x 0,5)cm. Phần nhựa bảo vệ đèn xin nhan phía sau của xe và phần nhựa ốp liền kề của đèn xin nhan này bị nứt, vỡ trên diện (24 x 6,5)cm. Phần đèn xin nhan này cùng chắn bùn sau của bánh sau xe bị đẩy lệch từ phải sang trái.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Các dấu vết thương tích khi khám ngoài: Vùng thái dương đỉnh bên phải cách sau đường chân tóc trán 6,5cm và trên đỉnh vành tai phải 03cm có diện phù nề kích thước (7,5 x 6,5)cm. Vùng giữa trán cách dưới đường chân tóc trán 1,5cm có vết thương rách da dạng phức tạp diện (7 x 4)cm, bờ mép nham nhở, còn cầu tổ chức ở đáy vết thương. Cung lông mày bên phải có một số vết rách da không liên tục trên diện (3,5 x 1,5)cm, bờ mép nham nhở. Hai mắt nhắm, bầm tụ máu quanh mắt phải, hai nhãn cầu không tổn thương. Lỗ tai phải khô, lỗ tai trái và mũi có máu chảy ra khi thay đổi tư thế. Sờ nắn thấy mất vững ở vùng đốt sống cổ C3, C4. Thành ngực vững. Vùng bụng bên phải có nhiều vết xây sát da không liên tục trên diện (12 x 10)cm. Vùng hông bên trái ngay sát gai chậu trước trên có vết xây sát da kích thước (1,5 x1)cm. Vùng mỏm vai bên phải có diện bầm tụ máu kích thước (3 x 2,5)cm. Mu bàn tay phải đến các ngón tay bầm tụ máu không liên tục kích thước (9 x 8)cm. Mặt trong cổ tay trái có tụ máu kích thước (6 x 4,5)cm. Sờ nắn thấy lạo xạo xương ở đầu dưới xương quay và xương cổ tay trái. Mu bàn tay trái đến các ngón tay có nhiều vết xây sát da, bầm tụ máu không liên tục trên diện (8 x 7)cm. Mặt trước đầu gối bên phải đến nửa trên cẳng chân có nhiều vết xây sát da, tụ máu không liên tục trên diện (20 x 8)cm. Mặt sau trong 1/3 giữa cẳng chân trái có diện xây sát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (18 x 6)cm. Mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng chân trái có diện xây sát da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (6 x 5)cm.

Giải phẫu tử thi: Giải phẫu qua vết rách da vùng trán thấy tụ máu dưới da vùng trán diện (10 x 8,5)cm, một phần tổ chức dưới da quanh vết rách da dập nát. Vỡ lún xương hộp sọ vùng trán, ngay sát gốc mũi kích thước (7 x 5,5)cm, vết vỡ xương phức tạp thành nhiều mảnh lan lên vùng xương trán đỉnh và xương trần ổ mắt hai bên. Qua vết vỡ xương hộp sọ thấy rách màng cứng vùng trán, dập tổ chức não thùy trái hai bên bán cầu não.

Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 130/GĐ-PC54 ngày 28/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Nguyên nhân chết của chị Ngô Thị V, sinh năm 1971 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, dập tổ chức não”.

Bản Kết luận giám định số 1646/C54(P4) ngày 30/03/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Mẫu máu ghi thu của Bùi Ngọc Kh gửi giám định có tìm thấy Ethanol (cồn), nồng độ Ethanol (cồn): 198,89mg/100ml”.

Bản kết luận giám định số 1655/C54(TT3) ngày 04/5/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Các chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ký hiệu M1, M2 gửi giám định đều là máu người. Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ký hiệu M1 là máu của chị Ngô Thị V. Mẫu chất màu nâu đỏ ghi tại hiện trường M2 là máu của một người nam giới”.

Bản Cáo trạng số 123/CT-VKSYP, ngày 30/7/2018 của Viện trưởng VKSND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Bùi Ngọc Kh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: Kh không có giấy phép lái xe. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/03/2018 đã điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @ sơn màu trắng BKS 28F1-065.40 của chị Bùi Thị H gửi trông coi giúp, đến phòng trọ của anh Bùi Văn M ở thôn M, xã L, huyện Y để dự và ăn mừng sinh nhật con gái anh M. Tại đây, Kh gặp Bùi Văn S ở cùng quê. Trong khi ăn mừng sinh nhật con gái anh M, Kh và S có uống rượu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn ở nhà anh M xong thì Kh và S tiếp tục rủ nhau đi uống bia tại gầm cầu thôn Đ, xã Đ, huyện Y. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì S điều khiển xe mô tô của S về nhà trọ của S, Kh điều khiển chiếc xe mô tô BKS 28F1-065.xx về nhà trọ của Kh tại thôn M, xã L, huyện Y. Trên đường về Kh điều khiển xe đi theo đường TL 286, khi đi đến địa phận thôn Ch, xã L, huyện Y do phần đường Kh đi có nhiều ổ gà nên Kh điều khiển chiếc xe mô tô đi lấn sang phần đường ngược chiều và đã va chạm với xe mô tô do chị Ngô Thị V điều khiển đi ngược chiều làm hai xe mô tô bị đổ xuống đường. Sau khi ngã ra đường Kh bị bất tỉnh, cả Kh và chị V được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh và chị V bị chết vào ngày 20/03/2018, còn Kh bị thương phải điều trị đến ngày 30/03/2018 thì ra viện. Sau khi ra viện Kh đã cùng gia đình thăm hỏi và bồi thường cho gia đình chị V tổng cộng là 170.000.000đ.

Ông Nguyễn Như Tr - Đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày: Việc xảy ra va chạm giữa Kh với chị V như thế nào ông không biết, chỉ sau khi được thông báo chị V bị tai nạn giao thông phải đi viện thì ông và anh em trong gia đình xuống bệnh viện thăm nhưng do vết thương nặng nên chị V đã chết ngay đêm 20/3/2018. Khi chị V chết gia đình Kh cũng chủ động thăm hỏi và lo tang. Sau khi lo tang lễ cho chị V xong, ông được chồng và 02 con của chị V ủy quyền tham gia quá trình giải quyết vụ án. Sau khi xảy ra sự việc chị Vân bị chết và chiếc xe mô tô bị hỏng, Kh và gia đình đã bồi thường cho gia đình chị V tổng cộng là 170.000.000đ. Nay ông Tr đại diện cho gia đình chị V không có yêu cầu gì khác và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ông Bùi Ngọc Th-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông là bố đẻ của Kh, Kh xuống khu công nghiệp làm công nhân, gia đình khó khăn chưa có điều kiện mua xe mô tô nên Kh chưa học lái. Việc Kh gây ra tai nạn như thế nào ông không biết, khi được thông báo Kh gây tai nạn phải đi viện ông mới biết Kh bị thương phải đi bệnh viện điều trị, còn chị V bị chết nên ông và gia đình đến thăm hỏi. Sau đó hai gia đình thông nhất giải quyết tình cảm và ông đại diện gia đình bồi thường cho gia đình chị V tổng cộng 170.000.000đ, đây là số tiền của ông tự nguyện bồi thường thay cho Kh và không yêu cầu Kh trả lại. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chiếu cố giảm nhẹ cho Kh.

Chị Bùi Thị H-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo lời khai tại CQĐT có trong hồ sơ thể hiện: Chị H đi làm công nhân ở KCN Yên Phong, có biết Kh là người cùng quê. Chị H có chiếc xe mô tô Honda Wave @ BKS 28F1-065.xx, ngày 17/3/2018 chị H về quê nên gửi Kh quản lý giúp, việc Kh đi xe gây tai nạn thế nào chị không biết, hôm sau chị đi làm mới biết là Kh lấy xe của chị đi chơi và gây tai nạn bị CQĐT giữ xe. Nay chị H đã được CQĐT trả lại xe và bị hỏng phải sửa hết 500.000đ, giá trị không đáng kể nên chị tự nguyện không yêu cầu Kh bồi thường.

Đại diện VKSND huyện Y thực hành quyền công tố tại phiên toà khẳng định: Khoảng 22 giờ ngày 19/3/2018, tại TL 286 thuộc địa phận thôn Ch, xã L, huyện Y, Bùi Ngọc Kh sau khi đã sử dụng rượu, bia điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @ sơn màu trắng BKS 28F1-065.xx không có giấy phép lái xe đi lấn sang phần đường ngược chiều đã đâm vào xe mô tô do chị Ngô Thị V điều khiển. Hậu quả chị V bị thương nặng và đã chết tại Bệnh viện. Hành vi của Kh đã vi phạm các Điều 8,9 Luật Giao thông đường bộ nên đã giữ nguyên nôi dung bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 BLHS xử phạt Bùi Ngọc Khiêm từ 22-24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Ông Tr đề nghị HĐXX xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.

Ông Th đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!NHẬN!ĐỊNH:!

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 19/03/2018, tại TL 286 đoạn thuộc địa phận thôn Ch, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Ngọc Kh sau khi sử dụng rượu, bia đã điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định đi lấn sang phần đường ngược chiều đã đâm vào xe mô tô do chị Ngô Thị V điều khiển đi ngược chiều làm chị Ngô Thị V bị thương nặng và đã chết tại Bệnh viện. Do vậy, đại diện VKSND huyện Y thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Kh điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định và đi không đúng phần đường gây tai nạn làm chết một người nên hành vi của bị cáo đã phạm các điểm a, b khoản 2 Điều 260 BLHS.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của người khác nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Không có tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, từ trước đến nay chưa có sai phạm gì, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Căn cứ tính chất vụ án thấy cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo và giáo dục.

*Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự giải quyết xong. Đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên cần ghi nhận sự tự nguyện đó.

*Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô SYM New Angel Hi BKS 99F8-71xx và chiếc xe mô tô Honda Wave @ BKS 28F1-065.xx là tài sản của chị V và chị H nên CQĐT đã trả cho đại diện hợp pháp của chị V và chị H là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Tuyên!bố : Bùi Ngọc Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 BLHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (LTHADS).

Phạt: Bùi Ngọc Kh 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu bồi thường của đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 LTHADS thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được qui định tại các Điều 6, 7 và 9 LTHADS. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo theo qui định tại Điều 30 LTHADS. ! Nơi!nhân:

T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM -TA,VKS tỉnh.

Thẩm!phán-chủ!tọa!phiên!tòa -VKS, CA, THADS huyện.

(đã ký) -Những người TGTT.

Lương Đức Năm -Lưu HS,Vp.! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !

Cỡ chữ