vanban.org

Bản án 138/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Hoàng Văn B đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị K (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh T cấp ngày 20 tháng 01 năm 2010).

Về con chung: Anh Hoàng Văn B giao con chung Hoàng Gia B, sinh ngày 08/10/2010 cho chị Trƣơng Thị K trực tiếp nuôi dƣỡng. Anh Hoàng Văn B có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Nghiã vụ cấp dƣỡng đƣợc thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. S… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Hoàng Văn B đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị K (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh T cấp ngày 20 tháng 01 năm 2010).
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 138/2018/HNGĐ-ST
Ngày 31-10-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 510/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 136/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1979; thƣờng trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh T; tạm trú: 30/27 khu phố N, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Trƣơng Thị K, sinh năm 1989; thƣờng trú: Xóm Hòa L, xã T, huyện P, tỉnh T; nơi ở hiện nay: Số 22/7, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trƣơng Văn H và bà Võ Thị B; cùng địa chỉ: Xóm 2, xã H, huyện H, tỉnh H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Hoàng Văn B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trƣơng Thị K sau một thời gian tìm hiểu nhau thì về chung sống với nhau vào năm 2008, tuy nhiên đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh T theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 02 ngày 20/01/2010. Việc tìm hiểu, chung sống và kết hôn do anh chị tự nguyện, có tổ chức lễ cƣới và đƣợc hai bên gia đình đồng ý. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà trọ chung sống tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Đến năm 2014, vợ chồng thuê nhà trọ sống ở khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh B. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do thời gian anh về quê ở Thái Nguyên chăm bố anh bị bệnh, chị K ở lại Bình Dƣơng có quan hệ bất chính với ngƣời đàn ông khác. Đến năm 2015, anh vào Bình Dƣơng thì phát hiện ra việc ngoại tình của chị K, anh có khuyên ngăn nhƣng chị K không nghe, dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên gây gỗ, cải vã, ngƣời tình của chị K còn nhiều khi đến đe dọa anh. Giữa năm 2015 anh đã dọn đồ đi nơi khác sống. Thời gian này, chị K có nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân thị xã Thuận An nhƣng sau đó chị K rút đơn. Từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn qua lại với nhau. Hiện nay, anh đã có mối quan hệ và có con chung với ngƣời phụ nữ khác, không còn tình của với chị K nữa nên anh yêu cầu đƣợc ly hôn với chị K.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Hoàng Gia B, sinh ngày 08/10/2010. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu chị K thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Hiện anh làm công nhân, thu nhập khoảng 7.000.000 – 10.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, nếu chị K yêu cầu nuôi con thì anh cũng chấp nhận và đồng ý cấp dƣỡng nuôi con số tiền 1.500.000đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quyền và nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 01 tháng 8 năm 2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Trương Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trƣớc khi chung sống vợ chồng chị có thời gian tìm hiểu gần một năm, đến cuối năm 2008 về chung sống với nhau, tuy nhiên đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn. Chị thống nhất về việc đăng ký kết hôn, hôn nhân là tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống ở phƣờng A, thị xã D, tỉnh B, vợ chồng có chuyển nhiều nhà trọ, sau đó chuyển về khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh B. Vợ chồng sống hạnh phúc đến giữa năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế, anh B có tình nhân và có con riêng với ngƣời phụ nữ khác. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 8/2015 đến nay. Tuy nhiên, bản thân chị là ngƣời có đạo Công giáo nên không đƣợc phép ly hôn. Lẽ ra trong sự việc này chị phải là ngƣời đứng đơn ly hôn chứ không phải anh B, cho nên nếu ly hôn thì chị yêu cầu mình là ngƣời đứng đơn xin ly hôn. Hiện nay anh B xin ly hôn thì chị không đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Hoàng Gia B, sinh ngày 08/10/2010. Trƣờng hợp Tòa giải quyết ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và yêu cầu anh B thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con một lần là 1.000.000 x 12 tháng x 10 năm, tổng cộng là 120.000.000 đồng; còn anh B thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng hàng tháng thì mỗi tháng yêu cầu anh B cấp dƣỡng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quyền và nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đ ại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm việc giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật Tố tu ̣ng dân sƣ̣.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân của anh B và chị K đã trầm trọng, không còn sống chung trong một thời gian dài, không thể hàn gắn. Do đó anh B xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận . Về con chung , đề nghị giao con chung cho chị K nuôi dƣỡng vi hiê ̣n ta ̣i cháu còn nhỏ, ghi nhận sự tự nguyện của anh B cấp dƣỡng

̀ nuôi con 1.500.000đ/tháng. Tài sản chung và nợ chung đƣơng sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trƣơng Văn H và bà Võ Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà B theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn B và chị Trƣơng Thị K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh T theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 02 ngày 20/01/2010 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Hiện nay, anh B xin ly hôn với lý do tình cảm vợ chồng không còn, anh B cũng thừa nhận anh đã có mối quan hệ với ngƣời phụ nữ khác hơn 1 năm nay, hiện anh đang chung sống với ngƣời khác và đã có con riêng. Điều này chứng tỏ trong đời sống vợ chồng anh B là ngƣời không chung thủy, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị K. Tuy nhiên, xét quan hệ vợ chồng của anh B và chị K thì thực tế anh chị đã không còn sống chung từ tháng 8/2015 đến nay. Điều này chính chị K cũng thừa nhận vợ chồng không còn sống chung và anh B không làm tròn trách nhiệm của ngƣời chồng, ngƣời cha, không quan tâm gì đến vợ con từ 03 năm nay. Tại phiên tòa chị K cũng trình bày, quá trình chung sống anh B thƣờng xuyên có những mối quan hệ với nhiều ngƣời phụ nữ khác, do đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì chị K không đồng ý giao con cho anh B nuôi dƣỡng vì anh B không đủ tƣ cách về đạo đức, không đủ trình độ văn hóa để nuôi dạy con nên ngƣời. Chính sự nhìn nhận đó của chị K cho thấy chính bản thân chị K cũng không còn tình cảm, không tôn trọng anh B, cho rằng anh B không xứng đáng là chồng của chị, là cha của con chị. Ngòai ra, tại phiên tòa, chị K cũng nêu ra điều kiện nếu anh B đồng ý cấp dƣỡng nuôi con một lần với mức 120.000.000 đồng thì chị sẽ trả tự do cho anh B. Từ yêu cầu này của chị K chứng tỏ thật sự chị K muốn tiếp tục cuộc hôn nhân chỉ là vấn đề “Tự do” hay “Không tự do” của anh B chứ thật sự mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Xét về mặt tình cảm, cả hai anh chị đã không còn tình cảm dành cho nhau do vậy có kéo dài cuộc hôn nhân cũng không mang lại cuộc sống hạnh phúc cho cả hai, hơn nữa còn làm cho chị K thêm đau khổ vì sự thiếu chung thủy của chồng. Nhâ ̣n thấy, mâu thuẫn vợ chồng giƣ̃a anh B và chị K đa ̃ thâ ̣t sƣ̣ trầm tro ̣ng, đờ i sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đa ̣t đƣợc. Vì vậy, anh B yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Tại phiên tòa, anh B đồng ý giao con chung cho chị K nuôi dƣỡng và tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị K yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng hoặc cấp dƣỡng một lần 120.000.000 đồng. Xét thấy anh B hiện làm nghề lao động phổ thông, không đủ khả năng kinh tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng một lần. Mức cấp dƣỡng 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp với điều kiện về thu nhập thực tế của anh B cũng nhƣ đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu để nuôi con trong điều kiện của chị K nên Tòa án ghi nhận.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn B phải chịu án phí dân sƣ̣ sơ thẩm về ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của khoản 4 Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 và Điềm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Anh Hoàng Văn B đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị K (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh T cấp ngày 20 tháng 01 năm 2010).

2. Về con chung: Anh Hoàng Văn B giao con chung Hoàng Gia B, sinh ngày 08/10/2010 cho chị Trƣơng Thị K trực tiếp nuôi dƣỡng. Anh Hoàng Văn B có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Nghiã vụ cấp dƣỡng đƣợc thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, chị Trƣơng Thị K phải tạo điều kiện cho anh Hoàng Văn B thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không đƣợc quyền cản trở anh Hoàng Văn B thực hiện quyền này . Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Trƣơng Thị K, nếu anh Hoàng Văn B không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nêu trên thì hàng tháng anh Hoàng Văn B còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con, đƣợc khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019427 ngày 17/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Hoàng Văn B còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

5. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ