vanban.org

Bản án 1374/2019/DSST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Suzuki T-Đinh Văn N"
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1374/2019/DSST
Ngày: 14/10/2019
V/v Tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhung.

Bà Lê Thị Xuân Lang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh – Thư ký Toà án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm

Duy Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 14 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

482/DSST, ngày 12 tháng 12 năm 2016; về “Tranh chấp đòi tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 4170/2019/QĐ-ST ngày

12/9/2019 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 8127/2019/QĐST-DS ngày

07/10/2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Suzuki T; sinh năm 1962.

Địa chỉ: 656 Y, xã O, huyện G, tỉnh Gifu, Japan.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Kim H; sinh năm 1977. (có mặt)

Địa chỉ: 187/7 ĐBP, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Cao Nhật A – Đoàn

Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn N; sinh năm 1965. (có mặt)

Địa chỉ: 98C LL, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Phía nguyên đơn trình bày:

Bà Suzuki T có cho ông Đinh Văn N mượn 9.000 USD và 5.314.800 Yên

Nhật. Bà Suzuki T đã chuyển số tiền này vào tài khoản của ông N tại Ngân hàng

E, cụ thể:

Ngày 10/4/2006 chuyển khoản 9.000 USD. (Hai bên đã thống nhất quy

đổi số tiền này ra đồng Yên Nhật là 1.016.550 Yên)

Ngày 11/12/2006 chuyển khoản 2.945.000 Yên Nhật.

Ngày 14/12/2006 chuyển khoản 2.369.800 Yên Nhật.

Ông N đã trả cho bà Suzuki T nhiều lần là 830.550 Yên, 1.500.000 Yên,

300.000 Yên, 2.281.698 Yên, 285.530 Yên.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đinh Văn N trả lại số tiền còn

thiếu là 1.132.772 Yên Nhật, tương đương 245.811.524 đồng Việt Nam, không yêu cầu trả lãi.

Phía bị đơn trình bày:

Ông có nhận của bà Suzuki T 9000 USD và 5.314.800 Yên Nhật, đây là

số tiền mà nguyên đơn chuyển cho ông để chơi chứng khoán và ông đã trả hết số tiền trên. Do đó ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn – ông Đinh Văn N không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn, vì ông cho rằng số tiền mà nguyên đơn chuyển cho ông bao gồm 9000 USD và 5.314.800 Yên Nhật là số tiền nguyên đơn đưa bị đơn để chơi chứng khoán và ông đã trả hết số tiền trên. Ông thừa nhận số tiền 9.000 USD hai bên đã quy đổi ra tiền Yên Nhật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị: Chấp

nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền còn thiếu là 1.132.772 Yên Nhật vì bị đơn đã thừa nhận toàn bộ số tiền đã nhận từ bà Suzuki T nhưng không có căn cứ nào chứng minh cho việc đã trả đủ số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa phát biểu ý kiến kết luận:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa sơ thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên về thời hạn giải quyết vụ án đã kéo dài so với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do phía bị đơn không

chứng minh được số tiền đã trả cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: do nguyên đơn – bà Suzuki T là người nước ngoài nên vụ

án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân

sự 2015.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Biên bản hòa giải, Biên bản đối chất tại Tòa án, các bản sao kê tài

khoản của bà Suzuki T tại Ngân hàng C, bản sao kê tài khoản của ông Đinh Văn

N tại Ngân hàng E, có đủ cơ sở kết luận ông N đã nhận của bà Suzuki T số tiền

là 9000 USD và 5.314.800 Yên Nhật. Việc ông N cho rằng đây là tiền ông nhận

của bà Suzuki T để chơi chứng khoán và ông đã trả hết cho bà Suzuki T nên

không chấp nhận đơn kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên ông N không có chứng

cứ chứng minh ông đã trả đủ số tiền trên cho bà Suzuki T, đồng thời tại phiên

tòa hai bên thừa nhận số tiền 9.000 USD ông N nhận từ tài khoản của bà Suzuki

T đã được hai bên thống nhất quy đổi ra tiền Yên Nhật là 1.016.550 Yên, nên

việc nguyên đơn khởi kiện chỉ thừa nhận ông đã trả được một phần như trình

bày trên và còn thiếu lại tổng cộng 1.132.772 Yên Nhật quy đổi ra đồng Việt

Nam là có cơ sở.

Tổng số tiền ông N còn thiếu của bà Suzuki T là 1.132.772 Yên Nhật quy

đổi sang tiền Việt Nam đồng vào thời điểm xét xử là 202.76 đồng x 1.132.772

Yên Nhật = 229.680.851 đồng (theo tỷ giá của đồng Yên Nhật tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam).

Chấp nhận đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền lợi phía nguyên đơn. Đề

nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở

chấp nhận. Buộc ông Đinh Văn N phải có trách nhiệm trả cho bà Suzuki T số

tiền 229.680.851 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu sáu trăm tám mươi nghìn

tám trăm năm mươi mốt đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn – ông Đinh Văn N phải chịu là 5% x

229.680.851 đồng = 11.484.042 đồng (Mười một triệu bốn trăm tám mươi bốn

nghìn không trăm bốn mươi hai đồng). Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm cho bà Suzuki T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166, 280, 688 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26, 37, 264, 266, 267, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ

phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Suzuki T.

Buộc bị đơn – ông Đinh Văn N phải trả lại cho bà Suzuki T số tiền

1.132.772 Yên Nhật, tương đương 229.680.851 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu sáu trăm tám mươi nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng).

Kể từ ngày các đương sự có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đinh Văn

N chưa thi hành thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn – ông Đinh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.484.042

đồng (Mười một triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi hai đồng). Thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 6.266.500 đồng (Sáu triệu

hai trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng) đã nộp cho bà Suzuki T theo biên lai thu 0031603 ngày 29/11/2016 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ