- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2019/HSST Ngày: 10 -9- 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thị Lệ
2. Bà Phạm Thị Bích Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 138/2019/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, giới tính: Nam, sinh năm 1985 tại tỉnh Bạc Liêu; Hộ khẩu thường trú: 713/29/7 Lê Đức Thọ, Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; con ông Nguyễn Văn K (sinh năm 1955) và bà Võ Thị Ngọc Dung (sinh năm 1959) ; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 10/10/2003 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản” (Bản án số 1869/HSST) Chấp hành xong ngày 20/8/2008. Ngày 07/9/2011 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bản án số 177/2011/HSST. Chấp hành xong ngày 22/10/2014. Đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 09/5/2019 (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1955
- Bà Võ Thị Ngọc Dung, sinh năm 1959
Cùng trú tại: 713/29/7 đường Lê Đức Thọ, Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 30 phút ngày 09/5/2019, Công an quận Gò Vấp kết hợp Công an phường 15 kiểm tra, phát hiện tại trước nhà số 680 Lê Đức Thọ, phường 15, quận Gò Vấp Nguyễn Trung H đang điều khiển xe máy biển số 59V2-259.50, trong hộc để đồ phía trước bên trái xe có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, H khai là ma túy đá nên lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Nguyễn Trung H khai:
Khoảng 13 giờ 00 ngày 09/5/2019, H sử dụng điện Iphone số sim 0584608935 gọi vào số điện thoại 0787436353 gặp một thanh niên (không rõ tên, nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp, người này đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại khu vực gần Chùa Phổ Minh, phường 16, quận Gò Vấp. H sử dụng xe máy biển số 59V2-259.50 đi đến chỗ hẹn gặp người thanh niên đưa 200.000 đồng và lấy gói ma túy, H để gói ma túy trong hộc để đồ phía trước bên trái xe rồi điều khiển xe đi về. Khi đi đến trước nhà số 680 Lê Đức Thọ, phường 15, quận Gò Vấp thì bị kiểm tra bắt quả tang đang cất giữ ma túy. Số ma túy bị thu giữ H mua về để sử dụng.
Vật chứng:
- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu.
Tại bản kết luận giám định số 1051/KLGĐ-H ngày 17/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H và hình dấu Công an phường 15, quận Gò Vấp, có khối lượng 0,3271gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- 01 xe gắn máy biển số 59V2-259.50 do bị can H đứng tên đăng ký xe.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone số sim 0584608935 H khai điện thoại là của bà Võ Thị Ngọc Dung là mẹ ruột, H tự ý lấy liên lạc mua ma túy, bà Dung không biết.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone số sim 0901314756;
- Số tiền 406.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo pH nhập kho số 115/PNK ngày 28/5/2019.
Đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Trung H chưa xác định được nhân thân lai lịch khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 135/Ctr-VKS, ngày 26/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trung H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H và hình dấu Công an phường 15, quận Gò Vấp.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 59V2-259.50
- Trả lại cho bà Võ Thị Ngọc Dung 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 06 Plus số sim 0584608935
- Trả lại cho bị cáo H 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 5 số sim 0901314756 và số tiền 406.000 ( bốn trăm lẻ sáu ngàn) đồng .
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 1051/KLGĐ-H ngày 17/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H và hình dấu Công an phường 15, quận Gò Vấp, có khối lượng 0,3271gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Trung H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia gây mất trật tự trị an còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng ma túy tương đối lớn là thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng 03 lần bị xử phạt về hành vi giết người, cướp tài sản và cướp giật tài sản. Tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo không hề ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Trung H, do chưa xác định được nhân thân lai lịch khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H và hình dấu Công an phường 15, quận Gò Vấp là ma túy tổng hợp Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe gắn máy biển số 59V2-259.50 do H đứng tên đăng ký chủ quyền xe. Bị cáo khai chiếc xe là của cha ruột Nguyễn Văn K mua và cho bị cáo đứng tên và sử dụng, bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 Plus số sim 0584608935 H khai điện thoại là của bà Võ Thị Ngọc Dung là mẹ ruột, H tự ý lấy liên lạc mua ma túy bà Dung không biết nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc điện thoại cho bà Dung.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 5 số sim 0901314756 và số tiền 406.000 đồng là tư vật của H không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2019
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H và hình dấu Công an phường 15, quận Gò Vấp
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 59V2-259.50 số khung RLCSE9210FY028796; số máy: E3R7E - 028797
- Trả lại cho bà Võ Thị Ngọc Dung 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 Plus số sim 0584608935
- Trả lại cho bị cáo H 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 5 số sim 0901314756 và số tiền 406.000 ( bốn trăm lẻ sáu ngàn) đồng .
(Theo pH nhập kho vật chứng số 115/PNK ngày 28/5/2019 của Công an quận Gò Vấp)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Hƣơng |