vanban.org

Bản án 137/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Hồng T. Chị Trương Thị Hồng T được ly hôn với anh Võ Thanh L.

Chị T và anh L không yêu cầu giải quyết N vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết. Về con chung: Chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 26/3/2017 (theo nguyện vọng của cháu N) và ghi nhận việc anh L không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Trương Thị Hồng T và Võ Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Hồng T. Chị Trương Thị Hồng T được ly hôn với anh Võ Thanh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 12 - 2024
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Khắc Hiệp

2. Bà Phan Thị Cẩm Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Đ; chỗ ở hiện nay: Tổ 3, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh B (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Võ Thanh L, sinh năm 1989; địa chỉ: 109/3 ấp N, xã A, huyện T, tỉnh B (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản khai, Đơn xin xét xử vắng mặt trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trương Thị Hồng T trình bày:

Chị Trương Thị Hồng T và ông Võ Thanh L có thời gian quen biết và tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm. Chị T và anh L được cha mẹ hai bên chấp thuận tổ chức đám cưới và tiến đến cuộc sống hôn nhân vào đầu năm 2016. Chị T và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh B và đã được UBND xã A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2016 ngày 10/3/2016. Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh L có 01 người con chung là cháu Võ Trọng N, sinh ngày 26/3/2017.

Chị T và anh L sống hạnh phúc được hơn 03 năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vợ chồng chị T và anh L phát sinh mâu thuẫn lớn, thường xuyên xảy ra cãi vã với nhau. Nguyên nhân chính là do những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến với nhau trong sinh hoạt, làm việc hằng ngày, ai cũng cho mình là đúng, người kia sai nên không có sự tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2018 anh L bỏ về quê nhà mẹ ở xã A, huyện T, tỉnh B. Gia đình hai bên nhiều lần khuyên ngăn, hàn gắn tình cảm cho chị T và anh L nhưng không thành. Hiện nay chị T đang làm việc tại công ty điện tử trong khu công nghiệp Đại Đăng 03, thu nhập ổn định từ 13.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Hiện nay cháu N đang sống ổn định cùng chị T và mẹ chị T. Mẹ chị T là giáo viên tiểu học nên có thể phụ giúp chị T trong việc chăm sóc cháu N.

Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

- Về hôn nhân: chị T yêu cầu được ly hôn với anh Võ Thanh L. Không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: chị T yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 26/3/2017, không yêu cầu anh Võ Thanh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: chị T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết

Bị đơn anh Võ Thanh L đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Do nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Về nội dung: xét lời trình bày của chị T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thấy rằng trong thời gian chung sống chị và anh L đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn đoàn tụ được. Do đó có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh chị T và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Hồng T, chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh L nên đây là tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Võ Thanh L cư trú tại xã A, huyện T, tỉnh B, do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Về tố tụng: Chị T có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị T và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 10/3/2016. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét lời trình bày của chị T cho rằng trong những năm gần đây, vợ chồng chị T và anh L phát sinh mâu thuẫn lớn, thường xuyên bất hòa, đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay; gia đình hai bên nhiều lần khuyên bảo, hàn gắn tình cảm cho chị T và anh L nhưng không có kết quả.

Đối với anh Võ Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L cho thấy nội dung mà chị T đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh L là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp.

Về con chung: cháu Nguyễn Trọng N, sinh ngày 26/3/2017 hiện đang sống cùng chị T và chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy chị T có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy cháu N và cháu N để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần và cháu N cũng có nguyện vọng sống cùng chị T. Vì vậy giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời ghi nhận việc anh L không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, Anh L không có lời trình bày về vần đề này, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị T và anh L được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung trong vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).

Về nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết. Anh L không có lời trình bày về vần đề này, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; các Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Hồng T. Chị Trương Thị Hồng T được ly hôn với anh Võ Thanh L.

Chị T và anh L không yêu cầu giải quyết N vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 26/3/2017 (theo nguyện vọng của cháu N) và ghi nhận việc anh L không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

3. Về tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, Anh L không có lời trình bày về vần đề này nên không xem xét giải quyết.

Chị T và anh L được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung trong vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).

4. Về nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết. Anh L không có lời trình bày về vần đề này nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003619 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú xem như đã nộp xong.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Khắc Hiệp – Phan Thị Cẩm Hồng

Phan Cẩm Nhung

Cỡ chữ