- Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2023/HS-ST. Ngày: 27/9/2023. |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y BLư, bà Trần Thị Hoa Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà A – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Tường V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 17 tháng 3 năm 1997 tại Kon Tum; Nơi ĐKTT: Thôn 2, xã Tân L , Hện Kon R , tỉnh Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: Số 15 Bùi Thị X , phường Quyết Th , thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trường V , sinh năm 1962 và bà Đặng Thị Ng , sinh năm 1968; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Phạm Thị Hồng Y, sinh năm 1975 ( Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 143 Đoàn Thị Đ , phường Quyết Th , thành phố K, tỉnh Kon Tum.
2/ A Trần Viết H, sinh ngày 27 tháng 4 năm 2007 ( Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện: Chị Nguyễn Thị T , sinh năm 1988 (là mẹ đẻ; vắng mặt).
3/ Chị Nguyễn Thị T , sinh năm 1988 ( Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Trung Nghĩa T , xã Kr , thành phố K, tỉnh Kon Tum.
4/ A Võ Văn A , sinh ngày 31 tháng 7 năm 2007 ( Có mặt).
Người đại diện: Chị Trần Thị L , sinh năm 1981 (là mẹ đẻ; có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Trung Ng T , xã Kr , thành phố K, tỉnh Kon Tum.
5/ A Nguyễn Duy Kh, sinh năm 2000 ( vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
6/ Chị Nguyễn Thị Xuân V, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 169 Nguyễn Văn L , phường Nguyễn Tr , thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
7/ A Trần Hoàng H, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2005 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
8/ Chị Trần Thị U, sinh năm 1985 ( Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 21 Trần Văn H , phường Trường Ch , thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
9/ A Lê Hoài A , sinh ngày 03 tháng 8 năm 2006 (Vắng mặt).
Người đại diện: Chị Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1978 (là mẹ đẻ; có mặt).
Cùng địa chỉ: Số 156 Nguyễn Sinh S , phường Quang Tr g, thành phố K , tỉnh Kon Tum.
- Người làm chứng: A Lê Phi H , sinh năm 2002 (có mặt).
Địa chỉ: Số 05/10 Nguyễn H , phường Thống Nh , thành phố K , tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2023, bị cáo Nguyễn Thị Tường V thuê nhà số 15 Bùi Thị Xuân, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum của chị Phạm Thị Hồng Y để ở.
Ngày 22/5/2023, V lên mạng xã hội, thấy bán ma túy loại cần sa nên nảy sinh ý định mua để bán kiếm lời. V tìm thấy 01 tài khoản Facebook (không rõ tên tài khoản) có bán cần sa nên đặt mua với số tiền 1.200.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 23/5/2023, nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà, giao cho V 01 bì ni lông trong suốt, có chứa cành, lá, hoa của cây cần sa đã được phơi khô. V dùng máy xay sinh tố để xay nhỏ một phần lá và hoa trong số cần sa đã mua, rồi dùng giấy mềm quấn thành 16 điếu cần sa và phân thêm 03 bì ni lông nhỏ để bán lẻ khi có khách mua. Riêng số hoa, lá, cành cần sa còn lại, V đựng trong 01 bì ni lông trong suốt, hàn kín rồi cất giấu tại phòng ngủ tầng 02 ở nhà V thuê để bán kiếm lời. V nhờ các mối quan hệ quen biết ngoài xã hội để giới thiệu V bán ma túy loại cần sa. Ngày 24/5/2023, V đã 03 lần bán ma túy loại cần sa tại số 15 Bùi Thị Xuân, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 24/5/2023, Trần Viết H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B2-128.65 mượn trước đó của mẹ là chị Nguyễn Thị Tình, chở theo Võ Văn An xuống thành phố Kon Tum chơi. Trên đường đi, H rủ An mỗi người góp 50.000 đồng, mua 02 điếu cần sa, với số tiền 100.000 đồng để sử dụng. An đồng ý. Thông qua các mối quan hệ xã hội, biết V bán cần sa nên H chở An đến nhà V để mua cần sa. H trực tiếp vào giao dịch mua cần sa thì V đồng ý bán cho 02 điếu cần sa với giá 100.000 đồng. An đứng ngoài xe chờ H. Sau khi mua xong, H cất cần sa vào vỏ bao thuốc lá, hiệu Eagle (Con Ó), bỏ trong túi áo khoác bên phải và để An điều khiển xe mô tô, chở H tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 35 phút, khi đến gần khu vực trường THCS-THSP Lý Tự Trọng, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum thì bị Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trên người H cất giấu trong túi áo khoác bên phải 02 điếu cần sa trong vỏ bao thuốc lá hiệu Eagle (Con Ó). Cơ quan CSĐT đã lập biên bản và niêm phong tang vật. Tại thời điểm thực hiện hành vi, Võ Văn An mới 15 tuổi 09 tháng 23 ngày.
Lần thứ hai: Vào khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 24/5/2023, do có nhu cầu sử dụng cần sa nên Nguyễn Duy Kh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B1-305.20, mượn trước đó của mẹ là chị Nguyễn Thị Xuân V, đi từ nhà Kh đến nhà V để hỏi mua 01 điếu cần sa với số tiền 50.000 đồng. V đồng ý bán cho Kh 01 điếu cần sa. Sau khi mua xong, Kh điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 00 phút, khi đi đến đoạn ngã ba đường Bùi Thị X và Nguyễn H , phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum thì bị Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Kh đang cầm trong bàn tay trái 01 điếu cần sa. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản và niêm phong tang vật.
Lần thứ ba: Vào khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 24/5/2023, Trần Hoàng H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B2-145.21, mượn của mẹ trước đó là chị Trần Thị U, chở theo Lê Hoài A đi dạo phố. Trên đường đi, A rủ H mua cần sa về sử dụng. H đồng ý. Thông qua các mối quan hệ xã hội, biết V bán cần sa nên H chở A đến nhà V để mua cần sa. Cả H và A trực tiếp vào nhà gặp V để hỏi mua 01 điếu cần sa với giá 50.000 đồng. V đồng ý bán. Lúc này, A đưa tiền cho H, H đưa tiền cho V. Sau đó, V đưa lại cho A 01 điếu cần sa. Sau khi mua cần sa xong, H điểu khiển xe mô tô chở A đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, khi đi đến gần đoạn ngã ba Bùi Thị X và Nguyễn H , phường Quyết Th , thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, thì bị Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Lê Hoài A đang cầm trong bàn tay trái 01 điếu cần sa. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản và niêm phong tang vật.
Mở rộng điều tra, đến khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 24/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Tường V tại số 15 Bùi Thị X , phường Quyết Th , thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Trong nhà lúc này có Lê Phi Hùng đang ở đây chơi với V. Tại phòng ngủ tầng 02, V giao nộp 12 điếu vỏ ngoài bọc giấy, bên trong có chứa hoa, lá thực vật khô đã được xay nhỏ quấn kín; 03 bì ni lông nhỏ bên trong có chứa hoa, lá thực vật khô được hàn kín; 01 bì ni lông bên trong có chứa cành, hoa, lá thực vật khô dán kín; 01 máy xay sinh tố có dòng chữ Saka Japan, đã qua sử dụng và số tiền 200.000 đồng thu trong túi quần bên trái của V. Cơ quan CSĐT đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và niêm phong toàn bộ tang vật.
*Kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kon Tum thể hiện:
- Mẫu hoa, lá thực vật khô xay nHễn bên trong 02 ống (điếu) vỏ ngoài bọc giấy, quấn kín (ký hiệu M1.1; M1.2) được niêm phong trong phong bì đánh số “01” gửi giám định là ma túy; loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol; có tổng khối lượng 1,308 gam; Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa.
- Mẫu hoa, lá thực vật khô xay nHễn bên trong 01 ống (điếu) vỏ ngoài bọc giấy, quấn kín (ký hiệu M2) được niêm phong trong phong bì đánh số “02” gửi giám định là ma túy; loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol; có khối lượng 0,618 gam; Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa.
- Mẫu hoa, lá thực vật khô xay nHễn bên trong 01 ống (điếu) vỏ ngoài bọc giấy, quấn kín (ký hiệu M3) được niêm phong trong phong bì đánh số “03” gửi giám định là ma túy; loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol; có khối lượng 0,702 gam; Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa.
- Mẫu hoa, lá thực vật khô xay nHễn bên trong 12 ống (điếu) vỏ ngoài bọc giấy, quấn kín; mẫu hoa, lá thực vật khô trong 03 bì ni lông dán kín; mẫu cành, hoa, lá thực vật khô trong 01 bì ni lông dán kín (ký hiệu lần lượt từ M4.1 đến M4.16) được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma túy; loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol; có tổng khối lượng 68,820 gam; Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa.
*Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Kon Tum đã thu giữ:
- 71,448 gam Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa (sau giám định còn 69,366 gam); 01 máy xay sinh tố, bên ngoài có chữ Saka Japan (đã qua sử dụng); 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri XQ17921678; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có số seri ZE21931435; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có số seri TV16866819; 01 vỏ gói thuốc EAGLE (hiệu con Ó). Các vật chứng này cHển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B2-128.65 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B1-305.20 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B2-145.21 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Cơ quan CSĐT đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B2-128.65 cho chị Nguyễn Thị T ; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B1-305.20 cho chị Nguyễn Thị X V; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B2-145.21 cho chị Trần Thị U.
*Cáo trạng số 128/CT-VKSTPKT ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tường V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ ngU quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tU bố bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, c, e khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, đề nghị:
+ Tịch thu và tiêu hủy: 69,366 gam Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa, tất cả được niêm phong trong một hộp giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có in nội dung Công an tỉnh Kon Tum, Phòng Kỹ thuật Hình sự; 01 vỏ gói thuốc EAGLE (hiệu con Ó).
+ Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri XQ17921678; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có số seri ZE21931435; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có số seri TV16866819. Tất cả được niêm phong trong phong bì, ký hiệu: “Tiền”, có chữ ký và hình dấu tròn của Công an phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum; tịch thu 01 máy xay sinh tố, bên ngoài có chữ Saka Japan (đã qua sử dụng).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.
*Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tường V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp không có ý kiến trA luận gì thên. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tường V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để khẳng định: Vào tối ngày 24/5/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Kon Tum tiến hành kiểm tra hành chính các xe mô tô lưu thông tại khu vực phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum và đã phát hiện các đối tượng Trần Viết H, Võ Văn An, Nguyễn Duy Kh, Lê Hoài A, Trần Hoàng H có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Các đối tượng đều khai ma túy tàng trữ có nguồn gốc mua của Nguyễn Thị Tường V, địa chỉ 15 Bùi Thị Xuân, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum. Do đó, vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 24/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Tường V tại số 15 Bùi Thị Xuân, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Tại phòng ngủ tầng 02, V giao nộp cho cơ quan điều tra: 12 điếu (ống), vỏ ngoài bọc giấy, bên trong có chứa hoa, lá thực vật khô xay nHễn, quấn kín; 03 bì ni lông dán kín, bên trong có chứa hoa, lá thực vật khô; 01 bì ni lông, bên trong có chứa cành, hoa, lá thực vật khô, dán kín. V khai nhận, trong tối 24/5/2023 đã bán cho các đối tượng: Trần Viết H (sinh ngày 27/4/2007); Võ Văn An (sinh ngày 31/7/2007 – chưa đủ 16 tuổi) 02 điếu; Nguyễn Duy Kh 01 điếu; Lê Hoài A (sinh ngày 03/8/2006), Trần Hoàng H (sinh ngày 18/02/2005) 01 điếu, tổng cộng 04 điếu cần sa, với giá 200.000 đồng.
Toàn bộ số ma túy thu giữ có tổng khối lượng 71,448 (Bảy mươi mốt phẩy bốn trăm bốn mươi tám) gam, là loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa; có nguồn gốc là do V mua trên mạng xã hội Facebook (không rõ tài khoản), với giá 1.200.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời.
Như vậy, bị cáo Nguyễn Thị Tường V đã có hành vi tìm mua ma túy về mục đích bán kiếm lời, vào tối ngày 24/5/2023 bị cáo V đã bán nhiều lần và có lần bán đối với 02 người, thể hiện bị cáo đã bán cho Trần Viết H, Võ Văn An, Nguyễn Duy Kh, Lê Hoài A, Trần Hoàng H, trong đó Võ Duy An dưới 16 tuổi. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với các tình tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp: “phạm tội 02 lần trở lên”, “đối với 02 người trở lên” và “bán ma túy cho người dưới 16 tuổi”. Do đó, Cáo trạng số 128/CT-VKSTPKT ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tường V là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là một chất gây nghiện làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và tính mạng của con người và là ngU nhân dẫn đến hậu quả của những tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an của xã hội. Chính vì tác hại nguy hiểm này mà pháp luật nghiêm cấm mọi cá nhân không được phép mua bán, tàng trữ ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, đồng thời pháp luật quy định hình phạt nghiêm khắc để trừng trị đối với loại tội phạm này. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra bị cáo đã ngang nhiên tìm mua ma túy loại cần sa về tàng trữ mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn tiếp tay cho kẻ khác vi phạm pháp luật, và trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, do đó cần xét xử bị cáo mức án nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Nguyễn Thị Tường V, thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo còn tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm mới, được cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ, quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, cần phải có một bản án với mức án tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo Nguyễn Thị Tường V với đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân; để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng chính sách quản lý của Nhà nước, quy định của pháp luật về các chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra, trong vụ án này:
Đối với chủ tài khoản mạng xã hội Facebook đã bán ma túy cho bị cáo nhưng chưa xác minh được chủ Facebook là ai nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, có cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với chị Phạm Thị Hồng Y là chủ nhà số 15 Bùi Thị Xuân, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum và A Lê Phi Hùng đến nhà bị cáo chơi. Tuy nhiên, chị Y và A Hùng hoàn toàn không biết bị cáo tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, không xử lý đối với chị Y và A Hùng là phù hợp.
Đối với Trần Viết H, Võ Văn An, Nguyễn Duy Kh, Trần Hoàng H, Lê Hoài A là những người đã mua ma túy cần sa của bị cáo để sử dụng. Tuy nhiên, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Viết H, Kh, Hoàng H, A bằng hình thức “Phạt tiền”, đối với An bằng hình thức “Cảnh cáo” (do chưa đủ 16 tuổi) là phù hợp.
Về vật chứng:
+ 69,366 (Sáu mươi chín phẩy ba trăm sáu mươi sáu) gam, số ma túy còn lại sau giám định, là loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol có trong cây cần sa, tất cả được niêm phong trong 01 hộp giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 126/KL-KTHS”; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên. Đây là chất cấm lưu hành và phương tiện chứa đựng ma túy, mẫu vật nên cần tịch thu và tiêu hủy.
+ 01 máy xay sinh tố, bên ngoài có chữ Saka Japan (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện để bị cáo xay nHễn lá, hoa cần sa để bán. Do đó, cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
+ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng có số seri XQ17921678; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng có số seri ZE21931435; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng có số seri TV16866819. Tất cả được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu: “Tiền”, có chữ ký của những người liên quan và hình dấu tròn của “CÔNG AN PHƯỜNG QUYẾT THẮNG, THÀNH PHỐ KON TUM” là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Do đó, cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
+ 01 vỏ gói thuốc EAGLE (hiệu con Ó) là công cụ, phương tiện để Trần Viết H cất giấu ma túy. Do đó, cần tịch thu và tiêu hủy.
+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B2-128.65; 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B1-305.20 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 82B2-145.21 (đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Do các chủ sở hữu hợp pháp không biết các đối tượng Trần Viết H, Nguyễn Duy Kh và Trần Hoàng H sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B2-128.65 cho chị Nguyễn Thị Tình; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B1-305.20 cho chị Nguyễn Thị Xuân V; trả lại xe mô tô biển kiểm soát 82B2-145.21 cho chị Trần Thị U là phù hợp. Đối với 01 điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy, bị cáo đã làm rơi không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội dA.
TU bố bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt.
Căn cứ điểm b, c, e khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tường V 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 24/5/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu và tiêu hủy: 69,366 (Sáu mươi chín phẩy ba trăm sáu mươi sáu) gam ma túy, loại Delta-9-Tetrahydrocanabinol, số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) hộp giấy được dán làm bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 126/KL-KTHS”; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH KON TUM* và có các chữ ký ghi tên; 01 (một) vỏ gói thuốc EAGLE (hiệu con Ó).
- Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng có số seri XQ17921678; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng có số seri ZE21931435; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng có số seri TV16866819. Tất cả được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu: “Tiền”, có chữ ký của những người liên quan và hình dấu tròn của “CÔNG AN PHƯỜNG QUYẾT THẮNG, THÀNH PHỐ KON TUM”; 01 máy xay sinh tố, bên ngoài có chữ Saka Japan (đã qua sử dụng).
Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Kon Tum và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum.
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 6, 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tU án (27/9/2023), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ có mặt có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - VKSND tỉnh KonTum; - VKSND thành phố Kon Tum; - CA thành phố Kon Tum (đội điều tra); - Chi cụcTHADS thành phố Kon Tum;. - Bị cáo;Án văn, bộ phận THA; - UBND nơi đăng ký HKTT của bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ VA. HĐXX SƠ THẨM – TAND THÀNH PHỐ KON TUM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Bình Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |