vanban.org

Bản án 137/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 11/02/2023). Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 137/2023/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt Hà

Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hà Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1975 tại tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Đ, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; con ông: Lò Văn Kh và bà Lò Thị U; Vợ: Cà Thị Th, sinh năm 1979 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023 cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/02/2023, Lò Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27H1-4297 đi từ nhà ở bản Đ, xã MĐ, huyện MA đến bản LH, xã MP, thành phố Đ gặp một người người phụ nữ dân tộc Mông mua được một gói bằng nilon màu hồng trong chứa Methamphetamine với giá 60.000 đồng. Sau khi mua xong, H cất Methamphetamine vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi xe về nhà, đến khu vực đầu bản LH, xã MP, thành phố Đ thì bị tổ công tác Công an phường T và công an xã MP kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Vật chứng thu giữ gồm: 0,2 gam Methamphetamine, 01 mảnh giấy nilon màu hồng, 01 xe mô tô biển kiểm soát 27H1-4297 kèm 01 chìa khoá xe và giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn H.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 11/02/2023 đã xác định: Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 0,2 gam; lấy toàn bộ vật chứng gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 313/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng ký hiệu M: 0,2 gam. Mẫu các viên nén màu hồng ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định M: 0,14 gam. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 78/CT-VKSTPĐBP ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng là ma túy còn lại tịch thu để tiêu hủy cùng vật để gói ma túy, đối với chiếc xe mô tô kèm chìa khoá xe và giấy chứng nhận đăng ký xe của bị cáo đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin HĐXX miễn án phí cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xem xét xử bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về chăm sóc các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lò Văn H là đối tượng nghiện chất ma túy. Hồi 12 giờ 30 phút ngày 11/02/2023, tại khu vực bản LH, xã MP, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản Th, bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng được cân xác định khối lượng là 0,2 gam; kết luận giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Từ những căn cứ trên đủ cơ sở xác định: hành vi tàng trữ 0,2 gam Methamphetamine trên người của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...c)... Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị có là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép. Bản thân bị cáo người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật song vì nhu cầu của bản thân đã bất chấp và cố tình vi phạm. Do đó, cần phải xử bị cáo nghiêm minh theo quy định pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn Kh được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã một thời gian để giáo dục cải tạo và có thời gian cai nghiện ma túy. Tuy nhiên xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ và hoàn cảnh gia đình của bị cáo thì chỉ cần áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

Mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thì bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định, cũng không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và các vấn đề khác:

Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy cùng những vật dùng để gói, đựng ma túy không còn giá trị sử dụng.

Chiếc xe mô tô kèm chìa khoá xe và giấy đăng ký xe là tài sản của bị cáo, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết nên không có cơ sở điều tra làm rõ, HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đUg về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 11/02/2023).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau khi giám định); 01 (một) mảnh nilon màu hồng.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu sơn: đen, số máy 16S2-030232, số khung: RLCS 16S208Y030230, mang biển kiểm soát: 27H1-4297, xe cũ đã qua sử dùng kèm 01 chìa khoá xe; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 27 012511, do Công an tỉnh Điện Biên cấp ngày 06/8/2021. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25 tháng 5 năm 2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/6/2023).

Cỡ chữ