vanban.org

Bản án 137/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Huy M 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy Minh - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/HS-ST
Ngày: 27/10/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Phi Yến

2. Ông Lê Văn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 130/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Huy M, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường Đô Đốc L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: đường Ni Sư H, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 và bà: Trương Thị B, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Tạm giữ từ ngày 25/4/2023, tạm giam từ ngày 29/4/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an quận T. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Đức M1, sinh năm 1988

Địa chỉ: đường Bờ Bao T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 25/4/2023 tại địa chỉ số A đường Ni Sư H, phường A, quận T, Công an phường A, quận T cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Nguyễn Huy M đang cất giấu trái phép chất ma túy để bán cho khách; thu trong bửng chắn phía bên phải xe SH 300i biển số 59A3-191.19 của M một bóp màu đen bên trong có 03 gói nylon có chứa tinh thể màu trắng (mẫu ml), 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xanh (mẫu m2), 01 gói chứa 02 viên nén màu xám (mẫu m3). Tại bản Kết luận giám định số 4305/KL-KTHS ngày 04/5/2023 của Phòng K thuật hình sự, Công an Thành phố H kết luận: mẫu m1 có khối lượng 3,5579 gam là ma túy thể rắn, loại Ketamine, mẫu m2 có khối lượng 0,3582 gam là ma túy thể rắn, loại MDMA, mẫu m3 có khối lượng 0,7666 gam là ma túy thể rắn, loại MDMA (bút lục 42-45, 206-208).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Huy M khai nhận: Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định mua bán ma túy. Vào khoảng 13 giờ ngày 20/4/2023, M sử dụng ứng dụng Telegram điện thoại cho đối tượng tên B1 (không rõ lai lịch) hỏi mua hộp 5 khay (ketamine, khoảng 5 gam) và 03 con kẹo (thuốc lắc) với giá là 4.500.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, M đi bộ đến đầu hẻm địa chỉ số B đường Ni Sư H, phường A, quận T và gặp một người đàn ông mặc trang phục tài xế xe công nghệ G (không rõ lai lịch) đến giao ma túy cho M. M mở ra thấy 01 gói ma túy ketamine và 03 viên thuốc lắc rồi trả tiền. Sau đó, M đem ma túy về nhà tại địa chỉ số A Ni Sư H, phường A, quận T cất giấu. Khoảng 08 giờ ngày 25/4/2023, M phân 01 gói ketamine thành 03 gói nhỏ rồi cất giấu cùng với 03 viên thuốc lắc trong cốp trước xe hiệu Honda SH, biển số 59A3-191.19, M dự định bán một chấm khay (tương đương 0,5 gam ketamine) với giá 700.000 đồng và nửa hộp 5 khay (ketamine) với giá 2.300.000 đồng, 1 viên thuốc lắc với giá 250.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn P đến nhà chơi cùng M tại địa chỉ số A N H, Phường A, quận T thì Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang (bút lục 188-204).

Đối với Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn P khai nhận không biết Nguyễn Huy M cất giấu ma túy trong xe máy, không biết M mua bán ma túy và không tham gia cùng với M mua bán ma túy. Qua test nhanh, Đ, N và P âm tính với chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý (bút lục 76-83).

Vật chứng thu giữ gồm:

- 02 gói niêm phong bên ngoài có đánh số 956/23 và chữ ký giám định viên Trịnh Hải T1 là ma túy còn lại sau giám định (bút lục 212); 01 bóp da màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím (bút lục 42,212);

- 01 xe máy Honda hiệu SH màu đen xám biển số 59A3- 191.19 (phương tiện phạm tội). Qua xác minh anh Lê Hoàng M2 là người đăng ký sở hữu xe trên, ngày 12/4/2023 anh Lê Hoàng M2 đã bán xe máy trên cho cửa hàng xe máy X tại đường Dạ N, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng do quen biết với chủ cửa hàng nên chưa làm thủ tục sang tên. Anh Nguyễn Văn T2 đã mua lại xe máy trên vào ngày 12/4/2023 và trong ngày bán lại cho Nguyễn Xuân T3 là chủ cửa hàng xe máy Tiến M3. Sau đó, ngày 20/4/2023 anh Ngô Đức M1 mua lại xe trên cùng giấy đăng ký xe tên Lê Hoàng M2 tại cửa hàng Tiến M3 nhưng chưa làm thủ tục sang tên; ngày 23/4/2023 anh M1 cho bị can Nguyễn Huy M mượn xe nhưng không biết việc M sử dụng xe trên làm phương tiện phạm tội. Ngày 25/4/2023, M sử dụng xe máy trên để cất giấu ma túy và bị bắt lập biên bản tạm giữ (bút lục 43,52-72).

Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Huy M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng:

Đề nghị tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Hải T4 ghi số 956/23, tang vật ma túy còn lại sau giám định và 01 bóp da màu đen dùng để cất giấu ma túy.

Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh chứa sim số 0904209862.

Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím chứa sim số 076969992.

Đề nghị trả lại cho anh Ngô Đức M1 01 xe gắn máy hiệu Honda SH màu đen xám, biển kiểm soát: 59A3-191.19.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình để chăm sóc cho mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Huy M, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2 Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Huy M đã có hành vi cất giấu 3,5579 gam ma túy ở thể rắn, loại Ketamine và 1,1248 gam ma túy ở thể rắn, loại MDMA nhằm mục đích bán lại kiếm lời, bị cáo chưa kịp bán lại số ma túy trên thì bị phát hiện bắt quả tang. Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ thì các chất ma túy trên được quy đổi như sau:

Tỷ lệ phầm trăm về khối lượng MDMA là 22,496% (1,1248 gam so với 5 gam)

Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine là 17,7895% (3,5579 gam so với 20 gam)

Cộng tỷ lệ phầm trăm về khối lượng Ketamine và MDMA là 22,496% + 17,7895%= 40,2855%.

Như vậy, kết quả quy đổi số lượng ma túy của bị cáo M dưới 100% nên phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguyên nhân gián tiếp gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội cũng như biết rõ hành vi cất giấu, mua bán trái phép các chất ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, muốn có tiền nhanh để tiêu xài, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

3 Về tình tiết giảm nhẹ:

Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, lần đầu phạm tội, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, mẹ bị cáo bị tai nạn rất khó khăn trong việc tự chăm sóc bản thân và có nhiều bệnh nền, đặc biệt là bệnh tim mạch thường xuyên phải đến bệnh viện điều trị nên cần có người chăm sóc. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

4 Về vật chứng vụ án:

- 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Hải T4 ghi số 956/23, tang vật ma túy còn lại sau giám định. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- 01 bóp da màu đen dùng để cất giấu ma túy, là phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh chứa sim số 0904209862 là phương tiện bị cáo liên lạc, trao đổi mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử tịch nộp ngân sách nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím chứa sim số 076969992 là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo có yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda SH màu đen xám, biển kiểm soát: 59A3-191.19. Bị cáo khai mượn của anh Ngô Đức M1. Xét, xe gắn máy trên mang tên Lê Hoàng M2, anh M2 khai đã bán xe và chưa làm thủ tục sang tên. Sau đó, anh Ngô Đức M1 là người mua lại nhưng chưa kịp ra phòng công chứng ký hợp đồng mua bán mà chỉ làm hợp đồng mua bán tay. Anh M1 cho bị cáo M2 mượn xe, không biết bị cáo cất giấu ma túy để bán và có yêu cầu được nhận lại xe. Mặc dù, xe gắn máy trên chưa được sang tên cho anh Ngô Đức M1 nhưng qua xác minh và làm việc xác định chủ sở hữu đã bán xe trên và hiện tại đã bán cho anh M1, anh M1 là quản lý, sử dụng xe cũng như giấy tờ xe, Anh M1 không biết bị cáo cất giấu ma túy để bán và yêu cầu được nhận lại xe là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Huy M 02 (hai) năm tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.

2 Về vật chứng

Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Hải T4 ghi số 956/23, 01 bóp da màu đen.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh chứa sim số 0904209862.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím chứa sim số 076969992.

Trả lại cho anh Ngô Đức M1 xe gắn máy hiệu Honda SH màu đen xám, biển kiểm soát: 59A3-191.19, số máy: NF05E0047246, số khung: ZDCNF05AOJF110664.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 07/BB/2023 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận T và Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an quận T)

3 Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4 Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Cỡ chữ