vanban.org

Bản án 137/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/HS-ST
Ngày 20 ngày 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Việt

Ông Phùng Quốc Quân

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Sa Hoàng Nhật Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn P. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 01năm 1997 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Bản L, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Lò Văn P (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Bị cáo có vợ là Lò Thị M, sinh năm 1999. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại Bản án số 13/2013/HSST ngày 16/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Hộ khẩu thường trú: Bản L, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện: Thôn Lôi Cầu, xã Việt Hòa, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 05/6/2023 Lò Văn P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26K1-158.88 đi từ nhà tại bản L, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đến khu vực tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. P gặp và mua được của một người đàn ông tự giới thiệu tên là Đạt (không biết rõ tên, địa chỉ) 01 gói Heroine được gói bằng 03 lớp nilon màu xanh với giá 200.000VNĐ. P cầm gói ma tuý ở tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi P điều khiển xe đi từ đường dân sinh thuộc tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót ra đường QL6 thì bị Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn nghi ngờ, yêu cầu kiểm tra. Lò Văn P thả từ tay trái xuống đường (cách vị trí P đứng khoảng 50cm) 01 gói được gói bằng 03 lớp nilon màu xanh chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine. P khai nhận số Heroine bị thu giữ là của P mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn P, thu giữ niêm phong gói vật chứng trên. Ngoài ra tạm giữ của Lò Văn P: 01 điện thoại di động hiệu VSMART JOY 4 màu xanh (kèm 01 sim điện thoại di động); 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26K1-158.88.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Lò Văn P, kết quả: Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,18 gam, lấy 0,1 gam làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 1459/KL-PC09 ngày 08/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/ND-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ 0,18 gam, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/ND-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 107/CT-VKSMS ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 14 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh và ma túy bị thu giữ còn lại sau khi giám định T = 0,08gam.

Trả lại 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu VSMART JOY 4 màu xanh (kèm 01 sim điện thoại di động), đã qua sử dụng cho bị cáo Lò Văn P.

Ghi nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26K1-158.88, số máy JA39E0735651, số khung RLHJA3904HY755459 đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị N.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo tự bào chữa nhất trí với phần luận tội của kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận chiếc xe bị thu giữ là tài sản hợp pháp của bà và bà đã được nhận lại xe, hiện bà không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận ngày 05/6/2023, Lò Văn Phần mua của một người đàn ông giới thiệu tên là Đạt (không biết rõ tên, địa chỉ) 01 gói Heroine được gói bằng 03 lớp nilon màu xanh với giá 200.000VNĐ. Trên đường tìm nơi sử dụng tại khu vực tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang Lò Văn P đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn P đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét về tính chất:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trên thị trường, bị cáo vẫn cố tình mua, tàng trữ khối lượng ma túy lớn ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất và tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Ngày 16/11/2016, Lò Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 13/2013/HSST. Ngày 19/12/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, thuộc trường hợp đương nhiêu xóa án tích. Tuy nhiên, do thiếu tu dưỡng dẫn đến ngày 05/6/2023 tiếp tục bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật, nhân thân xấu.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không có căn cứ xem xét hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh và ma túy bị thu giữ còn lại sau khi giám định T = 0,08gam. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành, đồ vật liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu VSMART JOY 4 màu xanh (kèm 01 sim điện thoại di động), đã qua sử dụng bị tạm giữ khi bắt quả tang Lò Văn P. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa sơ thẩm xác định, chiếc điện thoại là tài sản hợp pháp của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội. Do đó cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26K1-158.88 bị thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn P. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa sơ thẩm xác định, chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Hộ khẩu thường trú: Bản L, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện: Thôn Lôi Cầu, xã Việt Hòa, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (là mẹ đẻ của bị cáo).Việc bị cáo sử dụng xe máy khi tàng trữ, bà N không biết và có yêu cầu xin lại tài sản. Ngày 10/6/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Nguyễn Thị N. Xét thấy, việc trả lại tài sản không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, không trái quy định của pháp luật, cần ghi nhận.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, Lò Văn P khai mua của người đàn ông tự giới thiệu tên là Đạt (không biết rõ tên, địa chỉ) tại khu vực tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (việc mua bán không ai biết, chứng kiến). Ngoài lời khai của P, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị can Lò Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,18 gam Heroine thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu xanh và ma túy bị thu giữ còn lại sau khi giám định T = 0,08gam Heroine.

Trả lại 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu VSMART JOY 4 màu xanh (kèm 01 sim điện thoại di động), đã qua sử dụng cho bị cáo Lò Văn P.

Ghi nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26K1-158.88, số máy JA39E0735651, số khung RLHJA3904HY755459 đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị N.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đống).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ