vanban.org

Bản án 137/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với ông Huỳnh Võ A.T.

Buộc ông Huỳnh Võ A.T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023, cụ thể: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng; tổng cộng 221.424.750 đồng; Kể từ ngày 01/8/2023 trở đi, ông H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng NNPTNTVN với Huỳnh Võ A.T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với ông Huỳnh Võ A.T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 137/2023/DS-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v tranh chấp“hợp đồng tín
dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Nga

2. Ông Lê Đức Thụy

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2023/TLST- DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp“Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 458/2023/TB-TA ngày 13 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Agribank); địa chỉ trụ sở chính: Số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Vinh Th, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện C, An Giang;

Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức H – Chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Agribank chi nhánh Chợ Mới – An Giang (giấy ủy quyền số 44/UQ-NHNo - CM ngày 21/02/2023 của Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang), (Có mặt).

Bị đơn: Ông Huỳnh Võ A.T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:

Vào ngày 14/04/2021, giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang và ông Huỳnh Võ Anh T có ký kết hợp đồng tín dụng số: 6711-LAV-202100870, số tiền vay là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) với mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay 60 tháng, ông Huỳnh Võ A.T nhận tiền vay ngày 15/04/2021, số tiền giải ngân là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), ngày trả nợ cuối cùng vào ngày 14/4/2026. Ông Huỳnh Võ Anh T còn chưa thanh tán nợ gốc là 195.829.000 đồng và tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023 là 15.603.483 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Võ A.T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Agribank tổng số tiền tính đến ngày 21/02/2023 là 211.432.483 đồng, trong đó: nợ gốc 195.829.000 đồng và tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023 là 15.603.483 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 6711- LAV - 202100870/2021/HĐ ngày 14/4/2021 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi ông T trả nợ xong theo lãi suất hợp đồng tín dụng đã ký.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 44/UQ.NHNNo ngày 21/02/2023; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản sao); Thông báo về việc giới thiệu chức danh và chữ ký Nguyễn Vinh Th, quyết định số 836/QĐ- NHNo – TCTL ngày 29/4/2022. Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 2665/QĐ-NHNo ngày 01/12/2022 (bản sao); Chứng minh nhân dân Huỳnh Võ Anh T, sổ hộ khẩu (photo); Phương án sử dụng vốn kiêm báo cáo đề xuất cho vay (photo); Hợp đồng tín dụng số 6711 LAV 2021 00870 (bản sao); Phụ lục hợp đồng, nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ (bản sao). Bảng kê tính lãi ngày 22/02/2023 (bảng chính); Giấy ủy quyền về việc nhận các khoản trợ cấp khi nghỉ việc ngày 31/12/2021 (bản sao).

Bị đơn Huỳnh Võ A.T vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Theo biên bản xác minh do cán bộ Tòa án lập được Đại diện khóm L, thị trấn C cung cấp thông tin, ông Huỳnh Võ Anh T vẫn còn đăng ký thường trú tại địa chỉ nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa: người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức H xác định, thời điểm Ủy ban nhân thị trấn C, Chủ tịch Ủy ban nhân thị trấn C ký xác nhận ông T đang công tác tại Ủy ban, được hưởng lương đủ điều kiện để Ngân hàng cho vay tín dụng cá nhân theo hạn mức phù hợp chứ hoàn toàn không có trách nhiệm hay ràng buộc gì giữa Ngân hàng với tổ chức, cá nhân nêu trên phải có trách nhiệm gì trong trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên họ không có liên quan gì trong vụ án. Vì vậy, Tòa án không đưa Ủy ban nhân thị trấn C, Chủ tịch Ủy ban nhân thị trấn C vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp.

Tại phiên tòa,

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Huỳnh Võ A.T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Agribank gồm vốn và lãi tính đến ngày 31/7/2023: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng; tổng cộng 221.424.750 đồng; Ngoài ra, yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 31/7/2023 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi ông Tú thanh toán xong nợ.

Bị đơn ông Huỳnh Võ A.T vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến, không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234; bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 và Điều 234 từ khi thụ lý vụ án, tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng số 6711-LAV-202100870, số tiền vay là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) với mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay 60 tháng, ông Huỳnh Võ A.T nhận tiền vay ngày 15/04/2021, số tiền giải ngân là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), ngày trả nợ cuối cùng vào ngày 14/4/2026. Ông Huỳnh Võ A.T còn chưa thanh tán nợ gốc là 195.829.000 đồng và tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023 là 15.603.483 đồng. Đánh giá Hợp đồng tín dụng số 6711- LAV - 202100870/2021/HĐ ngày 14/4/2021 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của ông T, việc ông T không trả tiền vốn và lãi suất theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Ngân hàng Agribank khởi kiện yêu cầu ông T tổng số tiền gốc lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023, cụ thể: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng; tổng cộng 221.424.750 đồng; Ngoài ra, yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 31/7/2023 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi ông T thanh toán xong nợ là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 49 Nghị định 21/CP của Chính phủ, đề xuất:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với ông Huỳnh Võ Anh T.

Buộc ông Huỳnh Võ A.T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023, cụ thể: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng; tổng cộng 221.424.750 đồng;

Tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 01/8/2023 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi ông T thanh toán dứt nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền vay và lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định là tranh chấp“hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền: bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn vắng mặt tuy được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 6711-LAV-202100870 ngày 14/4/2021 giữa Ngân hàng Agribank với ông Huỳnh Võ Anh T, số tiền giải ngân cho vay là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay 60 tháng, ông T đã nhận đủ tiền vay vào ngày 15/04/2021. Tuy nhiên, do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chưa thanh tán nợ gốc và lãi từng kỳ theo hợp đồng đã thỏa thuận là 195.829.000 đồng và tổng số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023 là 15.603.483 đồng nên Ngân hàng Agribank thực hiện quyền khởi kiện.

Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng tín dụng số 6711-LAV - 202100870/2021/HĐ ngày 14/4/2021 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của ông T, việc ông T không trả tiền vốn và lãi suất từng kỳ theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Vì vậy, việc Ngân hàng Agribank khởi kiện yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023, với tổng số tiền 221.424.750 đồng, cụ thể: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng là phù hợp quy định pháp luật về giao dịch dân sự, có căn cứ chấp nhận.

Về khoản tiền lãi phát sinh: do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng Agribank yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 31/7/2023 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trên số tiền còn nợ cho đến khi ông T thanh toán xong nợ là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.285.000 đồng (năm triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn) theo biên lai thu số 0013347 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn Huỳnh Võ A.T phải chịu án phí theo quy định là 5% số tiền 221.424.750 đồng, tương ứng 11.071.237 đồng (mười một triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi bảy đồng).

Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 49 Nghị định 21/CP của Chính phủ

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với ông Huỳnh Võ A.T.

Buộc ông Huỳnh Võ A.T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023, cụ thể: vốn gốc 195.829.000 đồng, lãi trong hạn 23.942.107 đồng, lãi quá hạn 1.653.643 đồng; tổng cộng 221.424.750 đồng;

Kể từ ngày 01/8/2023 trở đi, ông Huỳnh Võ A.T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận đã ký kết giữa Ngân hàng Agribank với ông Huỳnh Võ A.T tại Hợp đồng tín dụng số 6711-LAV-202100870, ký ngày 14/4/2021 cho đến khi ông T trả dứt nợ.

2. Về án phí:

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.285.000 đồng (năm triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn) theo biên lai thu số 0013347 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị đơn Huỳnh Võ Anh T phải chịu 11.071.237 đồng(mười một triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi bảy đồng), án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bản án để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn Huỳnh Võ A.T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ